Thursday, 30 June 2016

Nghi thức tụng chuông mõ TT Thích Lệ Trang

HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/6/2016.MHDT.

Nghi thức chuông mõ - Thích Lệ Trang

HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/6/2016.MHDT.

Wednesday, 29 June 2016

Tập 1: Chọn đường tu
  • Tập 2: Luật Tôn và Tịnh Độ Tôn
  • Tập 3: Thiền Tôn (Quyển Nhất)
  • Tập 4: Thiền Tôn (Quyển Nhì)
  • Tập 5: Duy Thức Tôn
  • Tập 6: Mật Tôn Và Thiên Thai Tôn
  • Tập 7: Hoa Nghiêm Tôn Và Tam Luận Tôn
  • Tập 8: Câu Xá Tôn – Thành Thật Tôn
  • Tập 9: Con Đường Tu Của Bậc Đại Thừa Bồ Tát
  • Tập 10: Con Đường Tu Của Năm Thừa.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.29/6/2016.MHDT.
  • MỤC LỤC.

    TẬP I: Chọn đường tu
    TẬP II: Luật Tôn
     Tịnh Độ Tôn
     Phụ hai phương pháp Niệm Phật
    TẬP III: Thiền Tôn (Quyển nhứt)
    TẬP IV: Thiền Tôn (Quyển Nhì)
    TẬP V: Duy thức tôn
    TẬP VI: Mật Tôn
     Nghi thức Trì Ngũ Bộ chú
     Thiên Thai Tôn
     Phụ ba phương pháp tụng kinh
    TẬP VII: Hoa Nghiêm Tôn
     Phụ nghi thức tụng Hoa Nghiêm tự mẫu (giọng Tổ VN)
     Phụ nghi thức tụng Hoa Nghiêm tự mẫu (giọng Quảng Đông)
     Tam Luận Tôn
    TẬP VIII: Câu Xá Tôn
     Thành Thật Tôn
    TẬP IX: Con đường tu của bậc Đại Thừa Bồ Tát
    TẬP X: Con đường tu của Năm Thừa.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.29/6/2016.MHDT.
    Niệm Phật pháp môn thù thắng.
    *
    Khi tu ai cũng muốn đạt được kết quả, đó là thường tình chẳng có chi lạ, lại nữa nhiều người muốn đọc kinh sách để hiểu sâu, biết rộng củng cố niềm tin hầu tu học được tinh tấn, nhưng có nhiều người chỉ nhứt tâm niệm Phật, cho nên tìm hiểu về pháp môn nầy, tưởng cũng là điều cần thiết.
    Rốt ráo mà nói, yếu chỉ của người tu theo pháp môn niệm Phật, là nhứt tâm niệm sáu tiếng “Nam Mô A Di Đà Phật”, bất luận là khi đi, đứng, nằm, ngồi, để cầu vãng sanh về nước cực lạc.
    Có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu về pháp môn nầy trong các vấn đề:
    - Do đâu mà có pháp môn niệm Phật.
    - Cảnh giới cực lạc.
    - Hành pháp môn niệm Phật như thế nào theo lời Phật dạy.
    A . - Do đâu mà có pháp môn Niệm Phật:
    Những kinh điển có liên quan đến đức Phật A Di Đà và cảnh giới ngài hộ trì được gọi là Cực Lạc, đó là kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A Di Đà cho nên muốn tìm hiểu về Tịnh độ tông hay pháp môn Niệm Phật, cần hiểu qua ba bộ của Tịnh độ tông.
    1. Vô Lượng Thọ Kinh là bộ kinh chánh yếu, trong kinh nầy giải tích đức Phật A Di Đà từ thuở trước kia khi tự biết mình có quả Phật, cho đến nay ngài đang ngự nơi phía Tây là Cực Lạc cảnh giới, Ngài hiện lo tiếp độ mọi chúng sanh chí thành cầu nguyện vãng sanh về cảnh giới cực lạc.
    Theo kinh nầy, về thời đức Phật Thế Tự Tại Vương ra đời, có một vị quốc vương Kiều Thi Ca. Vua Kiều Thi Ca nghe đức Phật thuyết pháp liền bỏ ngôi vua, xuất gia làm vị tỳ kheo hiệu Pháp Tạng. Một hôm Ngài đảnh lễ Phật, quỳ xuống, chấp tay cầu nguyện Phật chứng minh và phát nguyện 48 lời nguyện. Do nguyện lực ấy, sau nầy thành đức Phật A Di Đà.
    Bộ Kinh nầy cũng gọi là: Đại Bổn, Đại A Di Đà Kinh, Đại Vô Lượng Thọ Kinh,
    Lại theo kinh Bi Hoa, về đời vua Chuyển Luân ThánhVương tên Vô Tránh Niệm có vị đại thần Bảo Hải. Vị nầy có người con tên là Bảo Tạng, tướng tốt dị thường sau xuất gia thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Một hôm vua Vô Tránh Niệm nghe Phật thuyết pháp liền phát tâm muốn cúng dường các món ăn uống, y phục cho đức Phật và đại chúng luôn luôn trong ba tháng. Vị đại thần Bảo Hải khuyên vua nên phát tâm cầu đạo vô thượng. Vua liền phát nguyện sau nầy thành Phật sẽ làm giáo chủ một cảnh cực kỳ trang nghiêm thanh tịnh để giáo hóa chúng sanh. Vua Vô Thánh Niệm phát nguyện xong, đức Bảo Tạng Như Lai liền Thọ Ký cho vua sau nầy sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà và cõi nước của ngài sẽ là cõi Cực Lạc Tây Phương. Vị Đại Thần Bảo Hải sau nầy cũng thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
    Theo Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, phẩm thứ bảy Hóa Thành Dụ : Về thời quá khứ rất xa, tại nước Hảo Thành có vị vua tu thành Phật hiệu là Đại Thông Trí Thắng Phật. Khi còn ở ngôi báu ngài có 16 vương tử, khi nghe ngài đã thành Phật, 16 vị vương tử nầy liền xuất gia theo Phật Đại Thông Trí Thắng tu hành, được Phật giảng dạy kinh Pháp Hoa, về sau cả 16 vị vương tử nầy đều thành Phật. Có hai vị là Phật ở phương Đông : A Súc và Tu Di Đính, hai vị là Phật ở Đông Nam : Sư Tử Âm và Sư Tử Tướng, hai vị là Phật ở phương Nam : Hư Không Trụ và Thường Diệt, hai vị là Phật ở Tây Nam : Đế Tướng và Phạm Tướng, hai vị là Phật ở phương Tây : A Di Đà và Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não, hai vị làm Phật ở Tây Bắc : Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Thần Thông và Tu Di Tướng, hai vị làm Phật ở phương Bắc là Vân Tự Tại và Vân Tự Tại Vương, một vị là Phật ở Đông Bắc : Hoại Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não và vị thứ 16 chính là đức Thế Tôn ở cõi Ta Bà nầy.
    2. Kinh Quán Vô Lượng Thọ ghi lại việc xãy ra khi đức Thế Tôn ở tại núi Kỳ Xà Quật, do ngài cảm ứng lời cầu nguyện của hoàng thái hậu Vi Đề Hy bị vua A Xà Thế biệt giam ở cấm thất, ngài bảo đức Mục Kiền Liên cùng ngài A Nan đến đó, còn đức Thế Tôn hiện thân nơi ấy, giảng dạy cho bà Vi Đề Hy phương pháp tu để giải thoát khỏi cảnh giới Ta Bà, bà Vi Đề Hy nhờ thần lực của đức Thế Tôn, bà đã được thấy suốt nhiều cảnh giới, nhưng bà chọn cảnh giới Cực Lạc. Đó là cảnh giới của đức Phật A Di Đà, gồm có 9 phẩm. Đức Phật đã dạy cho Bà Vi Đề Hy phép Quán Vô Lượng Thọ ( Vô Lượng Thọ là sống lâu mãi mãi, cũng là một trong 12 danh hiệu tôn xưng đức Phật A Di Đà).
    Tưởng cũng nên nói qua nhân duyên Phật độ cho bà Vi Đề Hy, hoàng hậu của Tần Bà Sa, mẹ của vua A Xà Thế. Thời gian thái tử Tất Đạt Đa còm tìm thầy học đạo, có đến thành Vương xá, là kinh đô vương quốc Ma Kiệt Đà do Bình Sa Vương cai trị, Bình Sa Vương thấy ngài là một tu sĩ có tướng mạo cao quý, nên có đến thăm viếng và yêu cầu khi nào Thái Tử đắc đạo, mời trở lại viếng thăm vương quốc Ma Kiệt Đà. Do đó sau khi thành đạo chẳng bao lâu và sau khi đã độ ông Ca Diếp và Mục Kiền Liên, đức Thế Tôn đã sớm trở lại vương quốc Ma Kiệt Đà để độ cho Bình Sa Vương, lần gặp gỡ nầy, đức Thế Tôn giảng kinh Túc Sanh Truyện, Bình Sa Vương nghe qua chứng được quả Tu Đà Hoàn và ngài đã cúng dường rừng trúc để xây dựng Trúc Lâm Tịnh Xá.
    Trước kia, khi Hoàng hậu Vi Đề Hy chưa có con, vua Bình Sa Vương đã đi lễ nhiều nơi để xin thần nhân giúp cho, một hôm có vị thầy tướng cho vua biết, ở ngọn núi Phú Lâu Na có bậc tiên nhơn đạo đức, sau ba năm nữa sẽ thác sanh làm con vua. Vì muốn sớm có con sau đôi ba phen thỉnh cầu mà không được, lần chót vua ra lệnh cho sứ hóa kiếp tiên nhân để sớm đạt được ý nguyện của mình. Do đó trước khi chết, tiên nhân phát nguyện : ‘’ Ngày nay vua dùng tâm và miệng sai người giết tôi, nếu tôi sanh làm con vua, cũng dùng tâm và miệng sai người giết vua ‘’. Chưa sanh mà đã có oán thù, cho nên A Xà Thế còn có tên là Vị Sanh Oán.
    Khi đức Thế Tôn đã cao tuổi, Đề Bà Đạt Đa anh ruột của ngài A Nan, muốn thống lãnh Tăng đoàn, yêu cầu Phật truyền cho ông ngôi vị ấy, Phật biết Đề Bà Đạt Đa không xứng đáng nên chẳng khứng cho, Đề Bà Đạt Đa mới liên kết xúi dục Thái tử A Xà Thế cướp ngôi vua cha. Bình Sa Vương dẹp yên, biết con muốn làm vua, chẳng những không bắt tội mà ngài lại truyền ngôi cho A Xà Thế. Lên ngôi xong, A Xà Thế ra lệnh hạ ngục vua cha, không cho ăn uống, nhưng bà Vi Đề Hy đã vào thăm và lén giấu thức ăn trong người để tiếp tế cho Bình Sa Vương, biết được việc nầy, A Xà Thế hạ lệnh giam Vi Đề Hy ở cấm cung. Chính ở nơi đây, bà đã cầu nguyện đức Thế Tôn chỉ cho biết nguyên nhân, và dạy cho bà cách tu để thoát khỏi cảnh khổ ở thế gian nầy. Ấy là nguyên do Đức Thế Tôn giảng Quán Vô Lượng Thọ Kinh.
    Còn A Xà Thế, sau khi giam mẹ, ông sai người thợ cạo vào ngục thất để giết vua cha, liền sau đó ông được tin mình có con đầu lòng, lúc ấy ông mới biết tình cha con, ông vào cấm thất hỏi mẹ về tình cảm của vua cha đối với ông, bà Vi Đề Hy đã kể lại những tình cảm cao cả Bình Sa Vương đã dành cho ông, ông hối hận truyền lệnh thả vua cha, nhưng lệnh của ông đã đến chậm hơn nhiệm vụ của người thợ cạo phải thi hành. Nhân quả đã xong. Để răn dạy người tu hành, những hành vi của Đề Bà Đạt Đa và vua A Xà Thế đối với Phật và cha mẹ trở thành ngũ nghịch tội, ai mắc phải, bị đọa vào ngục vô gián. Theo kinh Pháp Hoa, Phẩm Đề Bà Đạt Đa, đức Thế Tôn cho biết ở một tiền kiếp, Đề Bà Đạt Đa đã truyền dạy cho ngài kinh Pháp Hoa, nên ngài đã thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa thành Thiên Vương Như Lai sau nầy. Còn vua A Xà Thế về sau thành một vị hộ pháp đắc lực, nhất là ông đã yểm trợ cho công cuộc Kiết Tập Kinh Điển lần thứ nhất.
    Quán Vô Lượng Thọ kinh, đức Phật giảng 16 phép quán tưởng, để được vào Chín Phẩm của đức Phật A Di Đà, đó là cõi cực lạc hay tịnh độ, nhưng Quán là pháp tu Thiền, Cho nên Quán Vô Lượng Thọ Kinh là pháp Thiền của Tịnh độ. Kinh nầy cũng còn được gọi là Thập Lục Quán Kinh.
    3. Kinh A Di Đà, chúng ta thường tụng trong các khóa lễ Cầu siêu, kinh nầy Phật giảng cho ông Xá Lợi Phất và đại chúng tại Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên, trong kinh nầy đức Phật đã mô tả sơ lược cảnh giới của đức Phật A Di Đà, khuyên mọi người tu để được vãng sinh về cảnh giới ấy, cương yếu là đoạn kinh sau đây:
    - Ông Xá Lợi Phất! Nếu có người trai lành, người gái thảo nào nghe nói về đức Phật A Di Đà, cố gắng chuyên trì tên hiệu Ngài: hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, một lòng chẳng loạn, thì người ấy khi lâm chung sẽ được đức Phật A Di Đà cùng các bậc Thánh, hiện ra trước người ấy, người ấy khi chết tâm không điên đảo, liền được sinh sang cõi nước cực lạc của đức Phật A Di Đà.
    Có thể nói đây là đoạn quan trọng, chính yếu để phát triển pháp môn Niệm Phật của tịnh độ tông. Kinh Vô Lượng Thọ được gọi là Đại Bổn A Di Đà nên kinh nầy còn được gọi là Tiểu Bổn A Di Đà.
    Căn cứ vào ba kinh: Vô Lượng Thọ (Khang Tăng Khải đời Tào Ngụy dịch), Quán Vô Lượng Thọ (Cương Lương Da Xá, đời Lưu Tống dịch), A Di Đà (Thiên Thân soạn, Cưu Ma La Thập, đời Diêu Tần dịch) và bộ Luận Vãng Sanh Tịnh Độ (Thế Thân trước tác, Bồ Đề Lưu Chi dịch), ngài Tuệ Viễn (334-416) xiển dương Quán Tưởng Niệm Phật, lập dựng nên tông phái Tịnh độ. Khác với Thiền Tông có truyền thừa, Tịnh Độ Tông tôn vinh những vị chứng quả thành Tổ, Phật giáo Trung Quốc đã tôn vinh ngài Tuệ Viễn là Sơ Tổ Tịnh Độ Tông, và lần lượt tôn vinh các vị Tổ Tịnh Độ Tông như sau 1) Tuệ Viễn, 2) Thiện Đạo, 3) Thừa Viễn, 4) Pháp Chiếu, 5) Thiếu Khang, 6) Diên Thọ tự Xung Huyền, hiệu Trí Giác, 7) Tỉnh Thường tự Thứu Vi, 8) Châu Hoằng tự Phật Huệ, hiệu Liên Trì, 9) Trí Húc tự Ngẫu Ích, 10) Hành Sách, 11) Thật Hiền tự Tư Tề, hiệu Tỉnh Am, 12) Tế Tỉnh tự Triệt Ngộ, 13) Ấn Quang
    B.- Cảnh Giới Cực Lạc:
    Về cảnh giới Cực Lạc, nó không phải là Niết bàn tịch tĩnh, theo như trong kinh A Di Đà diễn tả:
    - Này ông Xá Lợi Phất! Sao cõi kia lại gọi là Cực Lạc? Vì chúng sanh trong nước ấy không có những sự đau khổ, chỉ hưởng thụ những sự vui sướng mà thôi, nên gọi là Cực Lạc.
    - Lại nữa, ông Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy trùng bao lơn, bảy trùng lưới giăng, bảy trùng hàng cây, những trùng đó đều bằng bốn thứ ngọc báu, vây bọc chung quanh. Thế nên nước kia gọi là Cực Lạc.
    - Lại nữa, ông Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bằng bảy thứ ngọc báu, nước tám công đức tràn đày trong ao ấy. Đáy ao thường lấy cát vàng rải khắp mặt đất. Đường và bực bốn bên ao đều hợp thành bởi vàng, bạc, lưu ly và pha lê. Trên ao có những lâu các cũng đều trang nghiêm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não. Trong ao có những hoa sen lớn như bánh xe. Hoa sen xanh tỏa ra ánh sáng xanh, hoa sen vàng tỏa ra ánh sáng vàng, hoa sen đỏ tỏa ra ánh sáng đỏ, hoa sen trắng tỏa ra ánh sáng trắng, các hoa sen ấy đều có những hương vị thanh khiết vi diệu.
    - Này ông Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
    - Lại nữa, ông Xá Lợi Phất! Cõi nước của đức Phật A Di Đà kia, thường trổi những âm nhạc cõi trời; đất bằng vàng ròng và ngày đêm sáu thời thường mưa xuống những hoa mạn đà la cõi trời. Chúng sanh trong cõi nầy cứ sáng sớm ra, họ thường đem những lẵng hoa quí, cúng dường mười vạn ức Phật ở các phương khác, mà chỉ trong giây lát, họ đã về ngay tới nước của họ, kịp bữa ăn sáng. Ăn xong họ đi kinh hành.
    - Ông Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
    - Lại nữa, ông Xá Lợi Phất! Nước kia thường có các giống chim có màu sắc sặc sỡ, đẹp lạ như : chim bạch hạc, chim khổng tước, chim anh vũ, chim xá lợi, chim ca lăng tần già, chim cộng mệnh. Các loại chim ấy, ngày đêm sáu thời hót ra những tiếng hòa nhã. Trong những tiếng ấy diễn tỏ những diệu pháp như năm căn, năm lực, bảy bồ đề phần, tám thánh đạo phần. Những diệu pháp như thế, chúng sinh trong cõi nầy, nghe được tiếng pháp ấy rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
    - Ông Xá Lợi Phất! Ông chớ nên bảo rằng các giống chim nầy do tội báo mà sinh ra. Sở dĩ thế là vì sao? Là vì cõi nước của đức Phật A Di Đà kia không có ba đường ác.
    - Ông Xá Lợi Phất! Cõi nước đức Phật A Di Đà còn không có tên gọi ác, huống là có ác thực ư ? Các giống chim ấy đều do đức Phật A Di Đà muốn cho tiếng pháp lan rộng, nên ngài biến hóa ra như vậy.
    - Ông Xá Lợi Phất! Cõi nước đức Phật A Di Đà kia có những làn gió hiu hiu thổi rung các hàng cây báu, cùng những mạng lưới báu, phát ra những tiếng vi diệu, ví như trăm nghìn thứ âm nhạc, đồng thời trổi lên.
    - Ai nghe được những tiếng ấy, tự nhiên đều sinh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
    - Ông Xá Lợi Phất! Cõi nước đức Phật A Di Đà thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
    Đó là cảnh giới Cực Lạc theo kinh A Di Đà, còn theo kinh Vô Lượng Thọ, tỳ kheo Pháp Tạng có 48 lời nguyện, khi nào 48 nguyện nầy thành tựu ngài mới thành Phật A Di Đà, ngược lại tỳ kheo Pháp Tạng sau nầy đã chứng quả tức là 48 lời nguyện ấy đã thành tựu, đó cũng là cảnh giới của đức Phật A Di Đà: (Có thể đọc 48 lời nguyện theo thể văn vần của Kinh Bốn Mươi Tám Lời Nguyện trong Nghi Thức Tụng Niệm).
    1.- Tôi thành Phật rồi, nguyện độ cho nhân dân trong nước tôi tránh khỏi ba đường Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Nếu không được vậy, tôi quyết chẳng thành Phật
    2.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho những ai sanh vào nước tôi, đều tránh khỏi sự đọa lạc vào các hàng Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Nếu chẳng được vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    3.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi đều đồng một sắc như vàng ròng. Nếu không được vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    4.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi đều xinh lịch như nhau cả, chớ chẳng có sự chênh lệch người đẹp, kẻ thô. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    5.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi đều đặng Túc mạng thông, tức là rõ thấu ngàn muôn kiếp trước, nếu có ai quán tưởng mà không nhớ đuợc vô số kiếp, tôi quyết chẳng thành Phật.
    6.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi đều đặng Thiên nhãn thông. Nếu có ai trông ra không thấy ngàn muôn và vô số cõi Phật, tôi quyết chẳng thành Phật.
    7.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi đều đặng Thiên nhĩ thông. Nếu có ai không nghe ra tiếng của chư Phật thuyết pháp trong ngàn muôn và vô số cõi Phật, tôi quyết chẳng thành Phật.
    8.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi đều đặng Tha tâm thông. Nếu có ai không nhận ra tâm niệm của chúng sanh, tôi quyết chẳng thành Phật.
    9.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư thiên trong nước tôi đều đặng Thần tức thông. Nếu có ai trong một niệm mà chẳng vượt qua ngàn muôn và vô số cõi Phật, tôi quyết chẳng thành Phật.
    10.-Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi đều chẳng hề có ý vọng tưởng về tài sản mình, cho đến chẳng có lòng tham chấp cái thân thể mình. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    11.-Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi đều đắc được Pháp thân, tức là chắc quyết vào Pháp Phật thấu lý tuyệt đích và tu riết tới để nhập Đại Niết Bàn. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    12.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho hào quang tôi chói sáng khắp trong nước tôi và chói khắp vô số cõi khác, chúng sanh trong các cõi trông thấy hào quang ấy, đều lánh dữ theo lành. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    13.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho đời sống của tôi dài dặc vô hạn, nếu thọ mạng tôi không đến ngàn muôn và vô số kiếp, tôi quyết chẳng thành Phật.
    14.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho số Thanh Văn đệ tử trong nước tôi kể đếm không xiết; kể cho tất cả chư tu thành Phật, Duyên Giác trong ba ngàn cõi thế đếm mãi trong ngàn muôn và vô số kiếp cũng không đếm hết số Thanh văn đệ tử của tôi. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    15.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi sống lâu không kể xiết, trừ khi phát nguyện thọ sanh qua cõi khác. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    16.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho trong nước tôi chẳng ai biết tới những tiếng chỉ sự hung dữ tội ác. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    17.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho vô số chư Phật trong các cõi thập phương đều xưng tán danh hiệu tôi, ngợi khen công đức tôi và cõi Phật của tôi, khiến cho đệ tử nguyện sanh về nước tôi. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    18.- Tôi thành Phật rồi, nguyện rằng tất cả chúng sanh trong mười phương nếu đem lòng tin tôi, cầu về nước tôi và dẫu niệm danh hiệu tôi vừa đủ mười lần, thì tôi cũng rước ngay. Duy trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch và hủy mạ Chánh Pháp. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    19.- Tôi thành Phật rồi, nguyện rằng những chúng sanh trong mười phương đã phát tâm tu hành cho thành chánh giác, nếu nghe được danh hiệu tôi, lấy lòng thành tín và trong sạch mà niệm tưởng tôi để sanh về nước tôi, thì khi họ lâm chung, tôi dắc đại chúng hiện đến trước mặt họ mà tiếp dẫn họ. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    20.- Tôi thành Phật rồi, nguyện rằng những chúng sanh trong mười phương nếu nghe danh hiệu tôi, thường nhớ đến nước tôi, dốc lòng làm các việc công đức để sanh về nước tôi, thì họ được mãn nguyện ngay. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    21.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi, tất cả đều đủ ba mươi hai tướng quí. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    22.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chúng sanh các cõi sanh vào nước tôi đều đắc đặng bực Nhứt Sanh Bổ Xứ, tức là chỉ còn sanh có một lần vào cõi nào thì đặng thành Phật hoàn toàn; trừ chư Bồ Tát lập Đại nguyện đưa độ chúng sanh cho đến Niết Bàn và quyết lòng ra đi phụng sự chư Phật, hổ trợ Chánh Pháp. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    23.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho Bồ tát trong nước tôi có thể lướt qua các cõi mà cúng dường cho ngàn muôn và vô số chư Phật, kế trở về nước cho kịp bửa ăn ngọ . Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    24.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho Bồ Tát trong nước tôi muốn có bất kỳ vật chi như vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não, các thứ châu ngọc, mọi đồ trang điểm như hương, hoa, tua, tuội, phấn sáp, mạt hương, áo quần, dù lọng, cờ phướn, đèn, các điệu múa, hát, âm nhạc, thì tất cả đều hiện lại liền theo ý muốn. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    25.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho người trong nước tôi đều có đủ trí tuệ và giảng diễn nghĩa lý Phật Pháp cho đến chỗ viên mãn. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    26.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho Bồ Tát trong nước tôi, thân sức cứng rắn như hạt kim cương (của đức Narayana). Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    27.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho không một chúng sanh nào có thể biết cõi tôi nghiêm trang tịnh diệu tới đâu, dẫu cho ai có thiên nhãn cũng không thể biết hết công đức của cõi tốt đẹp vô cùng của tôi . Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    28.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho rằng bất kỳ vị Bồ Tát nào trong nước tôi, dầu kém công đức cũng dòm thấy cây Bồ Đề (Bửu thọ) của tôi đẹp đẻ, nghiêm trang và cao cả ngàn do tuần. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    29.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chúng sanh trong nước tôi thọ trì, đọc tụng kinh điển, đều hiểu rõ nghĩa lý cho đến chỗ viên mãn, hầu có diễn giảng ra một cách minh bạch . Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    30.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho Bồ Tát trong nước tôi đều có tài thuyết pháp một cách hùng biện và làu thông vô hạn lượng. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    31.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho nước của tôi trở nên thanh tịnh và sáng suốt. Chư Bồ Tát trong nước tôi ngồi trông ra thấy được ngàn muôn và vô số cõi Phật khác, cũng như nhìn vào gương mà thấy hình. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    32.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho trong nước tôi từ đất bằng cho chí hư không, đều có những cung điện, lầu các, cây hoa, ao suối quí báu vô giá làm bằng các thứ hương thơm, mùi hương bay ra khắp các cõi thế giới, khiến cho ai ngửi vào cũng đem lòng thờ kính chư Đại Bồ Tát và chư Phật Như Lai. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    33.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong ngàn muôn và vô số cõi Phật nếu được hào quang tôi chạm vào mình, thì thân tâm tôi trở nên hiền lành vui sướng hơn các bực Thiên và người. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    34.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong ngàn muôn và vô số cõi Phật, hễ nghe danh hiệu tôi, thì được thoát khỏi luân hồi, được đắc các cảnh Tam muội cao siêu cho đến thành đạo Bồ đề. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    35.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho hàng phụ nữ trong ngàn muôn và vô số cõi Phật, hễ nghe danh hiệu tôi, bèn ra sức tinh tấn mà trì niệm, phát tâm tu đến thành chánh giác, nhàm chán sự luân hồi làm thân phụ nữ, như vậy nếu về sau có sanh ra nữa, thì khỏi mang thân phụ nữ. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    36.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong vô số cõi Phật trong mười phương, hễ nghe danh hiệu tôi, thì đời nào sanh ra cũng lo tu hành mãi cho đến khi thành Phật. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    37.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong vô số cõi Phật mười phương, hễ nghe danh hiệu tôi, bèn cung kính lễ bái và thờ phụng tôi; trong khi hành phận sự Bồ Tát, các Ngài ấy được loài người và chư Thiên kính mến. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    38.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi, nếu muốn mặc y phục thì liền có y phục hiện đến ngay, y phục nhiệm mầu vốn sức linh của Phật ban cho, không có đường may, không thể dính dơ, không hề hư cũ. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    39.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi đều được vui sướng cũng như bậc Tỳ kheo đắc Đạo diệt được các mối khổ não nơi mình. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    40.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho loài người và chư Thiên trong nước tôi, tùy ý muốn thấy đức Phật nào trong mười phương vũ trụ, cứ nhìn vào cây Bồ đề phía ấy thì thấy ngay. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    41.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong vô số cõi Phật, hễ nghe danh hiệu tôi thì ngũ quan và tri giác trở nên mạnh mẽ đều đủ luôn. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    42.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong vô số cõi Phật, hễ nghe danh hiệu tôi thì đắc các phép Thiền Thanh Tịnh Giải Thoát Tam Muội (Suvibhaktavati), đắc pháp thiền nầy trong khoảng vài giây lát, các ngài ấy có thể cúng dường hằng hà sa số chư Phật trong các cõi, mà sự thiền định không bị gián đoạn. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    43.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Thiên và người trong vô số cõi Phật, hễ nghe danh hiệu tôi, thì đắc phước đức, mỗi khi lâm chung thì sanh ra nơi những gia đình tôn quí; như vậy mãi cho đến khi thành Phật. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    44.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong vô số cõi Phật, nghe danh hiệu tôi, thì công đức được gia tăng thêm mãi cho đến đắc quả Bồ đề trọn vẹn, trong khi tu hạnh Bồ Tát, các ngài ấy bao giờ cũng vui sướng, an lạc luôn. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    45.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong vô số cõi Phật, hễ nghe danh hiệu tôi, thì đắc phép thiền Phổ Đẳng Tam Muội (Samantamugata); đắc phép thiền nầy, các ngài ấy có thể đến viếng thăm và cúng dường từng đức Phật trong vô số đức Phật mười phương, như vậy mãi cho đến khi thành Phật, mà không bào giờ sự thiền định của các ngài bị gián đoạn. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    46.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong nước tôi, hễ muốn nghe Pháp chi, thì liền được nghe Pháp ấy. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    47.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong nước tôi và vô số cõi Phật, hễ nghe danh hiệu tôi, thì trở nên bất thối chuyển đối với quả Phật Thế Tôn. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    48.- Tôi thành Phật rồi, nguyện cho chư Bồ Tát trong vô số cõi Phật, hễ nghe danh hiệu tôi, thì đắc được phép ba lần nhẫn, các ngài ấy không xao lãng đói với Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Nếu không được như vậy, tôi quyết chẳng thành Phật.
    Hòa Thượng Trí Thủ tóm tắc cõi cực lạc như sau, tối thiểu phải có những điều kiện về nhân dân và thổ địa :
    1. Về nhân dân (chúng sanh thế gian):
    1) An lạc vô bệnh.
    2) Thọ mạnh lâu dài
    3) Thân tướng đẹp đẻ.
    4) Không có sự bất bình đẳng về giàu nghèo, sang hèn.
    5) Tâm tánh nhu hòa, đạo đức cao thượng.
    6) Đạo tâm kiên cố.
    7) Mọi người đều do hóa sanh mà có, không do thai sanh là kết quả của dâm dục, ô trược.
    8) Không có sự sai khác về nhỏ lớn già trẻ, mạnh yếu.
    9) Không nhơ bẩn, ô uế.
    10) Tâm trí phóng khoáng, thông đạt.
    11) Hết luân hồi trong lục đạo.
    12) Đủ sáu món thần thông.
    13) Đầy đủ huệ nhãn, chánh kiến,
    1. Về thổ địa (khí thế gian):
    1) Đất đai bằng phẳng, đầy châu ngọc trong suốt, không có khe hố, núi gò lởm chởm và ao rãnh sông ngòi hủng hê.
    2) Không có các nạn thiên tai như lụt bão, sắm sét, đại hạn, địa chấn, gây ra mất mùa, đói rét.
    3) Bầu trời luôn luôn quang đãng, không cần ánh sáng mặt trời, mặt trăng hay đèn nến.
    4) Tất cả vật dụng luôn luôn mới mẻ, không vở, không hư, không mục nát, không cũ nhớp.
    5) Phong cảnh xinh tươi, cây hoa đẹp đẽ, lầu gác mỹ lệ, không cần nhọc công kiến trúc trang hoàng mà tự nhiên hiện thành.
    6) Khí trời luôn luôn mát mẻ.
    7) Âm nhạc nhiệm mầu tự nhiên hay ngưng dứt tùy theo sở thích người nghe.
    8) Không có động vật nào khác, ngoài loài người, trừ sự biến hóa của Phật.
    9) Hồ nước trong, thơm ngọt ngào, cạn sâu ấm mát tùy từng sở thích.
    10) Cảnh vật tiếp xúc gây được khoái cảm nhẹ nhàng mà không làm chao động đạo niệm.
    11) Bảy báu và vật dụng tự nhiên thành tựu để cung ứng đầy đủ mà không cần đến sức người.
    12) Không có các sự trần lao phiền não.
    13) Không có nạn nhân mãn, mặc dù dân số vãng sanh mỗi ngày mỗi tăng.
    14) Nhân dân sống trong thái bình an lạc.
    Chúng ta ai cũng biết rằng cõi Cực Lạc do đức Phật A Di Đà làm giáo chủ, A Di Đà gồm có hai nghĩa chánh nằm trong đoạn kinh A Di Đà sau đây :
    Ông Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà Kia có vô lượng ánh sáng, soi khắp cõi nước mười phương mà không bị chướng ngại gì cả, vì vậy có tên hiệu là A Di Đà. Lại nữa, ông Xá Lợi Phất! Thọ mệnh của đức Phật A Di Đà kia, cùng thọ mệnh của nhân dân nơi cõi ngài dài vô lượng vô biên vô số kiếp, nên gọi là A Di Đà.
    Thường chúng ta xưng tụng danh hiệu ngài như sau : Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật hay A Di Đà Phật, thật ra ngài có đến 13 anh hiệu tôn xưng sau đây:
    1.- Vô Lượng Thọ Phật: Đời sống của Phật dài lâu vô lượng.
    2.- Vô Lượng Quang Phật: Hào quang trí huệ Phật nhiều không thể lường.
    3.- Vô Biên Quang Phật: Hào quang Phật chiếu sáng không biết đến đâu là cùng.
    4.- Vô Ngại Quang Phật: Hào quang Phật chiếu khắp mọi nơi, không bị chướng ngại nào ngăn cản.
    5.- Vô Đối Quang Phật: Không có hào quang Phật nào đối chiếu sánh bằng.
    6.- Viêm Vương Quang Phật: Hào quang Phật túa sáng hơn hết.
    7.- Thanh Tịnh Quang Phật: Hào quang Phật chiếu ra rất thanh tịnh.
    8.- Hoan Hỷ Quang Phật: Hào quang Phật chiếu ra làm cho người nhận được sẽ rất hoan hỷ.
    9.- Trí Huệ Quang Phật: Hào quang của Phật chiếu sáng tới đâu quét sạch vô minh, tăng trưởng trí huệ.
    10.- Bất Đoạn Quang Phật: Hào quang của Phật chẳng hề bị đứt đoạn.
    11.- Nan Tư Quang Phật : Hào Quang của Phật không ai có thể suy xét cho cùng tận, trừ có chư Phật.
    12.- Vô Xưng Quang Phật: Hào Quang của Phật không có lời nào xưng tụng cho đầy đủ.
    13.- Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật: Hào quang của Phật sáng hơn sức sáng của mặt trời, mặt trăng.
    Ở cõi Ta Bà nầy có 6 đường là : Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc Sanh, Người, A tu la và Trời và bốn bậc thánh là Thanh Văn, Bồ Tát, Duyên Giác và Phật lập thành mười pháp giới. Còn ở cõi Cực Lạc có ba bậc : Thượng, Trung, Hạ; mỗi bậc lại có ba phẩm, cộng chung thành chín phẩm, mọi người được sinh về cảnh giới nào cũng vậy, khi hoa sen ở cảnh giới ấy nở ra thì người đó sanh ra, tiếp tục tu thì tiến hóa lên, nếu không tinh tấn niệm Phật thì sẽ bị giáng xuống cõi thấp hơn.
    Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ, những điều kiện tu hành để được về các phẩm ấy được đức Thế Tôn dạy từ pháp quán thứ 14 đến 16 như sau:
    14) Quán Sanh Về Thượng Phẩm:
    Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: “Thượng phẩm Thượng Sanh là thế nào? Nếu chúng sanh muốn sanh về cõi kia, nên phát ba thứ tâm, là tâm chí thành, tâm sâu thiết, tâm hồi hướng phát nguyện, tất sẽ được vãng sanh. Lại có ba hạng hữu hình được sanh về Cực Lạc: Một là hạng có lòng xót thương, không giết hại, giữ tròn các giới hạnh. Hai là hạng đọc tụng kinh điển Phương Đẳng Đại Thừa. Ba là hạng tu hành lục niệm, hồi hướng phát nguyện sanh về An Dưỡng. Nếu đủ các công đức như thế, từ một ngày cho đến bảy ngày, liền được vãng sanh.
    Do kẻ ấy tinh tấn dõng mãnh, nên lúc vãng sanh Phật A Di Đà cùng hai Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô số hóa Phật, trăm ngàn Thanh Văn Tỳ Kheo đại chúng, vô lượng chư Thiên và cung điện thất bảo đều hiện đến. Khi ấy Quán Thế Âm Bồ Tát bưng đài Kim Cang, cùng Đại Thế Chí Bồ Tát tới trước hành giả. Phật A Di Đà phóng đại quang minh chiếu đến thân người vãng sanh, rồi cùng chư Bồ Tát đồng đüa tay tiếp dẫn. Hai vị đại thánh Quán Thế Âm, Đại Thế Chí lại cùng vô số Bồ Tát đồng thanh khen ngợi, khuyến tấn. Hành giả mục kích cảnh ấy rồi, sanh tâm vui mừng khấp khởi, tự thấy mình ngồi trên đài kim cang, theo sau Phật và Thánh chúng, trong khoảng khảy ngón tay, sanh về Cực Lạc.
    Khi đã sanh về cõi kia, lại thấy kim thân của Phật đầy đủ các tướng, chư Bồ tát sắc tướng cũng cụ túc trang nghiêm; các ánh sáng và rừng báu đều diễn thuyết pháp mầu. Hành giả nghe xong liền, liền ngộ vô sanh pháp nhẫn, trong giây phút thừa sự chư Phật khắp mười phương, được thọ ký trước chư Phật, rồi trở về bản quốc, chứng vô lượng trăm ngàn môn Đà La Ni. Đây gọi là Thượng phẩm Thượng Sanh.
    Thượng Phẩm Trung Sanh là thế nào? Có chúng sanh tuy không thọ trì kinh Phương Đẳng, nhưng khéo hiểu nghĩa thú, đối với đệ nhất nghĩa, tâm không kinh động, tin sâu ly nhân quả, không phỉ báng pháp Đại thừa. Nếu hành giả đem công đức niệm Phật hồi hướng, cầu sanh Cực Lạc, thì khi lâm chung Tây Phương tam thánh cùng vô lượng đại chúng quyến thuộc bưng đài tử kim, hiện đến trước mặt khen rằng : “Pháp tử ! Ngươi tu Đại Thừa, hiểu Đệ nhất nghĩa, nên nay ta đến tiếp nghinh”. Liền đó, đức Vô Lượng Thọ Thế tôn cùng với một ngàn hóa Phật đồng thời đưa tay xuống tiếp dẫn. Bãy giờ hành giả tự thấy mình ngồi trên đài tử kim, chấp tay khen ngợi chư Phật, rồi trong khoảnh một niệm liền sanh về nơi ao thất bảo ở cõi Cực Lạc.
    Đài tử kim ấy như hoa báu lớn, trải một đêm liền nở, bấy giờ hành giả thân sắc tử kim, dưới chơn lại có hoa sen thất bảo, được Phật và Bồ Tát đồng thời phóng quang soi đến mình, mắt liền mở sáng. Do tu tập trước kia, lúc đó tự nghe các âm thanh khắp nơi đều nói thuần pháp Đệ nhất nghĩa đế rất thâm mầu. Nghe xong liền bước xuống kim đài lễ Phật và chấp tay ca ngợi đức Thế Tôn. Trải qua bảy ngày liền được không thối chuyển nơi quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, có thể tự tại bay đi khắp mười phương thừa sự chư Phật, tu các môn tam muội. Như thế qua một tiểu kiếp, được chứng vô sanh nhẫn và mong chư Phật thọ ký. Đây là cảnh Thượng phẩm Trung sanh.
    Thượng phẩm Hạ sanh là thế nào? Có chúng sanh tuy cũng tin nhân quả, không báng Đại thừa, nhưng chỉ phát tâm cầu đạo vô thượng, rồi đem công đức ấy niệm Phật nguyện về Cực Lạc. Hành giả ấy khi lâm chung được Phật A Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế chí cùng chư Bồ Tát cầm hoa sen vàng, hóa hiện năm trăm vị Phật đến nghinh tiếp. Lúc đó năm trăm hóa Phật đồng thời đưa tay xuống và khen rằng: “Pháp tử! Ngươi nay thanh tịnh, phát vô thượng đạo tâm, nên ta đến rước ngươi”.
    Khi hành giả mục kích cảnh ấy rồi, liền thấy mình ngồi nơi hoa sen vàng, ngồi xong cánh hoa khép lại, theo sau đức Thế tôn sanh về ao thất bảo. Như thế trải qua một ngày đêm, hoa sen nở ra, bảy hôm sau mói được thấy Phật. Nhưng tuy thấy Phật, đói với các tướng hảo tâm còn chưa rõ ràng, đợi qua hai mươi mốt ngày, mới nhận được minh bạch. Bãy giờ người vãng sanh nghe các âm thanh đều diễn pháp mầu, bay dạo mười phương cúng dường chư Phật, và được nghe pháp thậm thâm trước các đức Thế tôn. Trải qua ba tiểu kiếp như thế, được bách pháp minh môn, trụ Sơ hoan hỷ địa. Đây là cảnh Thượng Phẩm Hạ sanh.
    Trên đây là môn tưởng Thượng bối vãng sanh, thuộc về phép quán thứ mười bốn.
    15.- Quán Sanh Về Trung Phẩm
    Đức Phật bảo A nan và Vi Đề Hy: “Trung phẩm Thượng sanh là thế nào ? Nếu chúng sanh thọ trì ngũ giới, giữ Bát quan trai hoặc tu các giới khác, không tạo tội ngũ nghịch và các điều lỗi lầm, rồi đem căn lành ấy hồi hướng cầu sanh về thế giới Cực Lạc ở phương Tây. Chúng sanh đó khi lâm chung, được Phật A Di Đà cùng các Tỳ Kheo quyến thuộc vi nhiễu, phóng kim quang soi đến mình, diễn thuyết các pháp khổ, không, vô thường, vô ngã, cùng khen ngợi hạnh xuất gia thoát khổ. Mục kích cảnh ấy, hành giả sanh tâm vui mừng, tự thấy mình ngồi trên đài sen, vội quì gối chấp tay cuối xuống lễ Phật. Lúc chưa ngước mặt lên, đã sanh về thế giới Cực Lạc.
    Sau khi vãng sanh, vừa lúc hoa sen nở ra, hành giả nghe các âm thanh khen ngợi pháp Tứ đế, liền chứng quả A La Hán, đầy đủ tam minh, lục thông và bát giải thoát. Đây là cảnh Trung phẩm Thượng sanh.
    Trung phẩm Trung sanh là thế nào? Nếu chúng sanh giữ chính chắn Bát quan trai hoặc giới Sa di hay giới Cụ túc trong một ngày đêm, các oai nghi đều toàn vẹn, đem công đức huân tu giới hương đó hồi hướng cầu sanh Cực Lạc. Khi lâm chung hành giả nầy thấy Phật A Di Đà cùng quyến thuộc cầm hoa sen thất bảo phóng kim quang hiện đến trước mặt mình. Bãy giờ đương nhơn nghe giữa hư không có tiếng khen rằng: “Lành thay thiện nhơn! Ngươi đã biết thuận theo lời dạy của chư Phật ba đời mà tu tập, nên nay ta đến rước ngươi, Khi đó hành giả thấy mình ngồi nơi hoa sen, cánh hoa khép lại, liền được sanh về bảo trì ở cõi Cực Lạc.
    Qua bảy ngày hoa sen nở, hành giả chấp tay ca ngợi Phật, được nghe pháp vi diệu, sanh tâm hoan hỷ, liền chứng quả Tu Đà Hoàn, và nửa kiếp sau mới chứng quả A La Hán. Đây là cảnh Trung phẩm Trung sanh.
    Trung phẩm Hạ sanh là thế nào? Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn hiếu dưỡng cha mẹ, tu hạnh nhân từ theo thế gian, khi lâm chung gặp thiện tri thức giảng cho nghe về sự vui nơi cõi Phật A Di Đà và bốn mươi tám nguyện của Pháp Tạng Tỳ kheo. Kẻ ấy nghe xong hoan hỷ niệm Phật mà qua đời, thần thức liền được sanh ngay về cõi Cực Lạc thế giới, lẹ như khoảng co duỗi cánh tay của người tráng sĩ.
    Qua bảy ngày sau hành giả được gặp Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, nghe pháp nhiệm mầu, sanh tâm vui đẹp, được quả Tu Đà Hoàn, sau một tiểu kiếp mới chứng quả A La Hán. Đây là cảnh Trung phẩm Hạ sanh”.
    Môn tưởng nầy gọi là Trung Bối Vãng Sanh, thuộc về phép quán thứ mười lăm.
    16.- Quán Sanh Về Hạ Phẩm
    Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: “Hạ phẩm Thượng sanh là thế nào? Hoặc có chúng sanh ngu tối, Tuy không hủy báng kinh điển Phương Đẳng, nhưng tạo nhiều nghiệp ác không biết hổ thẹn, kẻ ấy khi lâm chung gặp thiện tri thức nói cho nghe danh đề của mười hai loại kinh Đại thừa, liền được trừ diệt nghiệp ác rất nặng trong một ngàn kiếp. Bậc tri thức lại bảo phải chấp tay niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”; do đương nhơn thành tâm xưng danh hiệu Phật nên tiêu trừ tội trong năm mươi ức kiếp sanh tử. Ngay lúc ấy, đức Vô Lượng Thọ Như Lai cảm biết, liền sai hóa Phật, hóa Quán Âm và hóa Thế Chí hiện đến trước hành giả khen rằng: “Lành thay thiện nhơn ! Ngươi đã xưng danh hiệu Phật, nên các tội tiêu diệt, ta đến đây để rước ngươi”.
    Bãy giờ hành giả thấy ánh sáng của hóa Phật đầy khắp nhà mình, trong lòng vui nừng, liền xả thọ, ngồi trên hoa sen báu theo hóa Phật sanh về ao thất bảo. Sau khi vãng sanh trải qua bốn mươi chín ngày hoa sen mới nở. Vừa lúc hoa nở, Đại bi Quán Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí phóng ánh sáng lớn, trụ rtước người ấy, giảng thuyết cho nghe nghĩa lý thâm diệu của mười hai loại kinh ( * ). Đương nhơn nghe rồi tin hiểu, phát tâm vô thượng bồ đề, trải qua mười hai tiểu kiếp, thành tựu bách pháp minh môn, được vào Sơ địa. Đây là cảnh Hạ phẩm Thượng sanh.
    Hạ phẩm Trung sanh là thế nào? Hoặc có chúng snh ngu tối hủy phạm ngũ giới, bát giới, giới cụ túc, trộm của Tăng kỳ và vật hiện tiền tăng, bất tịnh thuyết pháp, lòng không hổ thẹn, dùng các nghiệp ác để tự trang nghiêm. Kẻ tạo tội chướng như thế, tất phải đọa vào địa ngục, nên lúc lâm chung, các tướng lửa của Địa ngục đồng thời hiện ra. Nhưng người nầy may mắn được gặp thiện tri thức giảng nói cho nghe về oai đức thập lực, sức thần thông quang minh của Phật A Di Đà, cùng những pháp : Giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Đương đơn nghe xong, sanh lòng tín trọng, nên trừ diệt tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử, lửa dữ Địa ngục hóa thành gió mát thổi các hoa trời, trên hoa có hóa Phật và hóa Bồ Tát hiện thân tiếp dẫn, trong khoảng một niệm liền được sanh về hoa sen nơi ao thất bảo.
    Sau khi vãng sanh trải qua sáu kiếp hoa sen mới nở. Vụa lúc hoa nở, Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí hiện đến,dùng tiếng Phạm âm an ủi và vì mà giảng thuyết pháp thậm thâm của Đại Thừa. Hành giả nghe xong, liền phát đạo tâm vô thượng. Đây là cảnh Hạ phẩm Trung sanh.
    Hạ phẩm Hạ sanh là thế nào? Hoặc có chúng sanh tạo tội ngũ nghịch thập ác, làm đủ các việc chẳng lành; kẻ ngu ấy do nghiệp ác đáng lẽ phải bị đọa vào ác đạo, trải qua nhiều kiếp, chịu khổ vô cùng. Nhưng khi lâm chung, người nầy nhờ gặp thiện tri thức dùng nhiều cách an ủi, nói pháp mầu cho nghe, lại dạy bảo tưởng niệm Phật. Đương nhơn tuy nghe lời dạy, song vì sự khổ bức bách, không yên rảnh để quán tưởng đức Vô Lượng Thọ Như Lai. Thấy thế, thiện hữu lại bảo: ‘‘ Nếu ông không thể tưởng đức Phật kia, thì nên chí thành xưng ‘‘ Nam Mô A Di Đà Phật’’ tiếng tăm liên tiếp không dứt cho đủ mười niệm ‘’. Hành giả vâng lời. Và do nhờ xưng danh hiệu Phật, nên mỗi niệm trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Khi mạng chung, người ấy thấy hoa sen vàng rực rỡ như vầng nhật hiện ra trước mặt. Trong khoảng một niệm, liền được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
    Như thế mãn mười hai Đại kiếp hoa sen mới nở. Khi hoa nở, hai vị đại sĩ Quán Thế Âm. Đại Thế Chí dùng tiếng đại bi vì hành giả nói rộng về thật tướng của các pháp và cách trừ diệt tội chướng. Đương nhơn nghe rồi thân tâm vui đẹp, liền phát lòng vô thượng bồ đề. Đây là cảnh Hạ phẩm Hạ sanh.
    Môn tưởng trên gọi là Hạ Bối Vãng Sanh.
    Đó là chín phẩm của cõi Cực Lạc.
    C.- Theo lời Phật dạy, hành pháp môn Niệm Phật như thế nào cho được thành tựu:
    Thông thường chúng ta hiểu nghĩa Lục Tự Di Đà hay Niệm Phật cầu Vãng sanh là: Nam Mô A Di Đà Phật có nghĩa như sau:
    Nam mô: Có 6 nghĩa: kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng.
    A: Có nghĩa là Vô, Không
    Di Đà: Nghĩa là lượng
    Phật : Người giác ngộ.
    Vậy Nam mô A Di Đà Phật là: Kính lễ đấng giác ngộ vô lượng, cũng có nghĩa là: Con quay về nương tựa vào đấng giác ngộ vô lượng.
    Muốn thành tựu bất cứ pháp môn nào, người tu tập trước nhất phải có: Tín, Hạnh, Nguyện. Nghĩa là chúng ta dứt trừ các mối nghi, tin rằng : Pháp môn niệm Phật thù thắng do chính kim ngôn của đức Thế Tôn, muốn thành tựu chúng ta phải hành rốt ráo và luôn luôn có chí nguyện bền vững cầu vãng sanh về cõi Cực Lạc.
    Trừ pháp Thập Lục Quán, pháp môn Niệm Phật có rất nhiều chủng loại, đại thể chúng ta có thể chia thành:
    • Sổ tức niệm Phật
    • Sổ châu niệm Phật
    • Trì danh niệm Phật .
    1.- Sổ tức niệm Phật: Ngồi bán già hay kiết già, xong niệm chú Tịnh pháp giới chơn ngôn:
    Án lam xóa ha (3 lần)
    Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn:
    Án, ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ truật độ hám ( 3lần ).
    Kế đọc bài kệ:
    Chánh thân đoan tọa,
    Đương nguyện chúng sanh.
    Tọa Bồ Đề tòa,
    Tâm vô sở trước
    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
    Nam Mô A Di Đà Phật . . .

    Theo đó cứ tiếp tục niệm Lục Tự Di Đà, hơi thở vào ra giữ cho đều hòa, một hơi thở không nhất thiết là một câu niệm Phật, cần nhất là chú tâm theo dõi từng tiếng thầm niệm của mình, đừng để cho tâm duyên theo các giác quan và ngoại giới.
    Khi mới bắt đầu với năm hay mười phút rồi mỗi tuần tăng thêm vài phút, tạo thành một thói quen dần cho thể xác và sự chú tâm, giữ cho được thoải mái, đừng gò bó cả thân lẫn tâm.
    Trước khi chấm dứt niệm Phật, chúng ta chí thành cầu nguyện:
    Con nguyện đem công đức niệm Phật nầy hồi hướng cho tất cả người thân kể oán, khi hết báo thân nầy cũng như cửu huyền thất tổ đều được vãng sanh về cõi Tịnh độ.
    2.- Sổ châu niệm Phật: Là cách niệm lần chuổi, có thể ngồi kiết già, bán già trong khi công phu ngoài ra còn có thể niệm khi đi đứng nằm ngồi, trong thời công phu chúng ta nên theo cách thức sau đây :
    Tịnh pháp giới chân ngôn:
    Án lam xóa ha (3 lần)
    Tịnh Tam Nghiệp chân ngôn :
    Án, ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần)
    Kế đọc bài kệ (chuổi 108 hạt)
    Bồ Đề nhứt bá bát,
    Diệt tội đẳng hằng sa.
    Viễn ly tam đồ khổ,
    Xuất sắc biến liên hoa.

    &*&
    Ái hà thiên xích lãng,
    Khổ hải vạn trùng ba.
    Dục thoát luân hồi khổ,
    Cấp tảo niệm Di Đà.
    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
    Nam mô A Di Đà Phật . . .

    Còn lần chuổi 18 hạt thì đọc bài như sau:
    Diệu quả Bồ Đề ly chưởng chưởng,
    Thủ khai cương tỏa diệu trùng trùng.
    Thập bát chuyển luân La Hán tướng,
    Thiện tăng giáng phước, huệ vô cùng .. .
    Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
    Nam mô A Di Đà Phật . . .

    Cách lần chuổi, cứ một câu niệm Phật, lần một hạt chuổi, khi chuổi lần giáp vòng, lần trở ngược lại, không lần vượt qua đầu mối xâu chuổi, nơi ấy tượng trưng cho Tam Bảo, phương pháp lần chuổi hạt tâm ta cũng vẫn chuyên chú vào từng tiếng niệm danh hiệu, và một phần nữa chú tâm vào việc lần hạt để không cho tạp niệm chen vào, định tâm để không quên lần vượt qua đầu xâu chuổi.
    Mỗi lần trước khi chấm dứt Niệm Phật, chúng ta cần phải chí thành cầu nguyện:
    Con nguyện đem công đức niệm Phật nầy hồi hướng cho tất cả người thân kể oán, khi hết báo thân nầy cũng như cửu huyền thất tổ đều được vãng sanh về cõi Tịnh độ.
    3.- Chuyên niệm niệm Phật: Phương pháp nầy không cần dùng chuổi, bất cứ lúc nào ta cũng niệm Phật, niệm có tiếng, có thể ngân nga như điệu hát, có thể niệm thầm, niệm khi đi, đứng, nằm, ngồi, lúc làm việc, bất kỳ lúc nào nhớ ra thì niệm Phật, thời gian đầu dễ bị duyên theo ngoại cảnh, vọng niệm chen vào lúc niệm Phật, lúc không nhưng hễ nhớ tới thì liền niệm Phật, dần dần sẽ niệm Phật nhiều hơn. Cho đến một lúc nào đó, ta nhớ ra thì thấy tự mình đã có niệm liên tục, dường như không ngừng nghĩ đó là: Niệm Hay Không Niệm Vẫn Là Niệm, nhưng chúng ta phải ghi nhớ rằng khi mình nhớ tới niệm Phật, tự dưng thấy ta tự động đang niệm Phật, chúng ta phải chú tâm vào niệm tiếp tục, có như vậy mới đạt được Vô Biệt Niệm.
    Vào những giờ nhất định nào đó, chúng ta ngưng niệm Phật để cầu nguyện:
    Con nguyện đem công đức niệm Phật nầy hồi hướng cho tất cả người thân kể oán, khi hết báo thân nầy cũng như cửu huyền thất tổ đều được vãng sanh về cõi Tịnh độ.
    Sau khi cầu nguyện xong, tiếp tục niệm Phật.
    Sự chuyên trì niệm Phật: Một là tâm tịnh thì trí huệ sanh, hai là nhứt tâm niệm Phật thì Phật và chư Bồ Tát mới tiếp độ khi lâm chung và quan trọng nhất là niệm Phật để giữ cho tâm chẳng tán loạn khi lâm chung mới có thể vãng sanh về cõi Cực Lạc. Niệm Phật cầu vãng sanh như đã nói phải có Tín , Hạnh, Nguyện. Hạnh ấy cần phải giữ giới nhất là hành thập thiện nhờ đó ba nghiệp thanh tịnh, sự tinh tấn hành trì, sẽ trợ duyên cho đạo quả thành tựu cao hơn, ở trong chín phẩm nơi cõi Cực Lạc.
    Ai cũng có thể hành trì pháp môn niệm Phật, không bị giới hạn trong hoàn cảnh nào, cho nên Niệm Phật là pháp môn thù thắng cho mọi người con Phật.
     ( * ) Mười hai loại kinh là : 1) Khế kinh. 2) Trùng tụng. 3) Thọ ký. 4) Phúng tụng. 5) Cô khởi. 6) Nhân duyên. 7) Thí dụ. 8) Bản sanh. 9) Bản sự. 10) Phương quảng. 11) Vị tằng hữu và 12) Luận nghị.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.29/6/2016.MHDT.
    Niệm Phật.
     
    I.-Dẫn nhập: Phật Giáo có hai môn phái nhiều người biết, đó là Thiền Tông và Tịnh Độ Tông. Pháp môn tu của Thiền Tông là ngồi thiền. Còn pháp môn tu của Tịnh Độ Tông là Niệm Phật. Nói đến Niệm Phật, người ta sẽ đạt câu hỏi do đâu mà niệm Phật? Niệm Phật có lợi ích gì ? Phải niệm Phật njhư thế nào cho đúng ? Đặi loại đó là những câu hỏi quan trọng, chúng ta cần phải biết qua, tránh những sai lầm, cũng để chọn pháp môn tu học thích hợp với mình.
    II - Do đâu có pháp môn niệm Phật: Có lẽ cũng nên dẫn một chuyện sau đây: Thái tử A Xà Thế là con vua Tần Bà Sa La và hoàng hậu Vi Đề Hy, nghe lời xúi dục của Đề Bà Đạt Đa, đoạt ngôi vua cha, còn Đề Bà Đạt Đa sẽ giết Đức Thích Ca để lên ngôi vị Phật. A Xà Thế kiếp trước là một vị tu sĩ ở trên núi, vua Tần Bà Sa La chưa có Thái Tử để nối ngôi, vua cầu con, có vị đạo sĩ chỉ cho vua biét có vị tu sĩ ở trên núi kia, sau khi mãn kiếp sẽ đầu thai thành thái tử. Nhà vua vì không con, nóng lòng nên lên núi tìm gặp tu sĩ ấy, yêu cầu ông ta hóa kiếp đi để vua sớm có hoàng tử, vị tu sĩ cho biét rằng 3 năm sau ông mới mãn kiếp, nếu vua bức bách ông ta phải chết, ông ta e rằng kiếp sau sẽ có mối thù và vua phải chịu quả báo. Vua Tần Bà Sa La vẫn cương quyết bắt ông phải hóa kiếp sớm, ông tu sĩ ấy phải tự tử rồi đầu thai thành Thái Tử A Xà Thế.
    Nghe lời Đề Bà Đạt Đa, A Xà Thế bắt vua cha nhốt trong ngục thất, không cho ăn uống để phải chết đói, Hoàng hậu biết vậy, liền xin A Xà Thế cho vào thăm, bà lén đắp thức ăn vào người, để vào ngục thất cho vua ăn. A Xà Thế biét được vua cha vẫn còn sống nhờ thức ăn của mẹ, ông liền hạ lệnh giam hoàng hậu. Trong lúc cực kỳ đau khổ đó, hoàng hậu Vi Đề Hy tưởng niệm đến Đức Phật. Đức Phật liền hiện ra giảng cho bà biết nhân qủa ngày trước vua Tần Bà Sa La đã bức bách vị tu sĩ kia chết, nay phải chịu quả báo. Ba VI Đề Hy xin Phật cứu độ bà ra khỏi cõi ta bà. Phật đã dùng thần lực của ngài, hiện ra nhiều cõi Phật để bà chọn lựa cõi nào bà muốn; cuối cùng bà chọn cõi tịnh độ của Đức Phật A Di Đà, là nơi cực lạc hơn các cõi khác. Do đó Phật đã dạy bà phép quán vô lượng thọ là phép quán để sau khi chết được về cõi Phật A Di Đà. Tưởng cũng nên nói thêm, trong kinh Pháp Hoa, Đức Thế Tôn cho biết, Đề Bà Đạt Đa trong nhiều kiếp trước, là vị đã truyền cho Đức Thế Tôn kinh Pháp Hoa, và Đức Thế Tôn cũng thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa sẽ thành Thiên Vương Như Lai sau nầy.
    Gần đây có quyển Tây Phương Du Ký của Ngài Khoan Tịnh Đại Sư là đệ tử của Hư Vân Hoà Thượng, đã được Đức Quán Thế Âm đưa đi đến cõi cực lạc từ 25 tháng 10 năm Đinh Mùi (1967) đến khi trở về là ngày mồng 8 tháng 4 năm Qúy Sửu (1973), tính ra 6 năm 5 tháng, nhưng trên cõi ấy, ngài tưởng chừng như chỉ có 20 giờ mà thôi. Ngài có găạp Hư Vân Hòa Thượng, Đức Di Lặc Tôn Phật, Đức Phật A Di Đà có dạy bảo ngài Khoan Tịnh, nếu ai được nhất tâm bất loạn, chỉ cần niệm 10 danh hiệu của Ngài cũng sẽ được sanh về cõi cực lạc. Sách do Lư Thế Hoa lược dịch và 2 dịch gỉa Hữu Từ, Tâm Hảo là những bạn đạo của chúng tôi, tu theo pháp môn Tịnh Độ ở Quan Âm Tu Viện, thuộc thành phố Biên Hòa.
    Trong kinh điển bổn A Di Đà, chúng ta thường tụng khi cầu siêu độ cho người quá vãng, Đức Thế Tôn có dạy nếu ai trì danh hiệu Phật A Di Đà từ một ngày, hai ngày...bảy ngày, nếu tâm không bị loạn động, khi mất sẽ được Phật A Di Đà và chư Bồ Tát hiện ra trước mắt, nếu người nàuy khi mất, tâm không điên đảo sẽ được sanh về cõi Cực Lạc. Cõi này có 9 phẩm, do công hạnh tu chứng cầu vãng sanh về cõi cực lạc của mình, sẽ có một cái hoa sen cho mình ở cõi cực lạc. Sau khi mình lìa cõi ta bà, mình sẽ được Đức Phật A Di Đà hay chư Bồ Tát đón về cõi cực lạc trong cái hoa sen, khi hoa sen nở mình sẽ sinh ra, chớ không có cha mẹ sinh ra như trong cõi ta bà này.
    Còn trong kinh Đại A Di Đà, có vị quốc vương Kiều Thi Ca, nghe Phật Thế Tự Tại Vương thuyết pháp, vua xuất gia làm Tỳ kheo Pháp Tạng. Ngài có 48 lời phát nguyện, về sau công hạnh viên mãn thành Phật A Di Đà. Trong đó, lời phát nguyện thứ 29 như sau: Nguyện đến khi tôi làm Phật, các Trời và nhân dân ở trong vô lượng thế giới 10 phương hết lòng tín mến, nguyện sanh về nước tôi, mười tiếng niệm danh hiệu của tôi, đều đặng vãng sanh, chỉ trừ người phạm tội ngũ nghịch và khinh dễ chánh pháp, nếu tôi nguyện không đặng như vậy, tôi chẳng làm Phật.
    Cũng trong kinh Pháp Hoa, Phẩm Phổ Môn, chúng ta thường tụng để cầu an, Phật dạy rằng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát luôn luôn quan sát thế gian, ai gặp hoạn nạn, niệm danh hiệu của Ngài, thì tai qua nạn khỏi. Ngài thường cứu độ cho và nhất là ban cho sự không sợ hãi.
    Chúng ta còn biết rằng, khi chúng ta niệm danh hiệu Phật hay Bồ Tát, tức là chúng ta tưởng nhớ đến hạnh nguyện các Ngài để chúng ta tu tập theo, trong khi niệm Phật hay chư Bồ Tát, ba nghiệp của chúng ta được thanh tịnh. Nếu chúng ta muốn được vãng sanh về Cực Lạc thì niệm danh hiệu Đức A Di Đà.
    III - Niệm phật như thế nào? Có những cách niệm Phật sau đây:
    - Tụng niệm: Qùy trước bàn Phật hay đi kinh hành, niệm lớn tiếng, có chuông mõ.
    - Niệm thầm: Niệm ở ngoài đường khi đi lại, chỗ làm việc, trước khi đi ngủ...
    - Khẩn niệm: Gặp những khi bệnh hoạn, tai nạn, lo sợ chúng ta niệm danh hiệu Đức Dược Sư, đức Quán Thế Âm.
    - Niệm Phật lần chuỗi: Dùng chuỗi tràng (chuỗi 108 hạt), chuỗi tay (18 hạt), chuỗi trung (người Nhật dùng 27 hạt) để niệm một danh hiệu, lần một hạt chuỗi, cũng là cách ghi số lượng niệm Phật, khỏi dùng tâm để nhớ.
    - Quán niệm: Nhìn vào tượng Phật, chú tâm chiêm ngưỡng tướng tốt của Phật hay tưởng tượng hình ảnh Phật trước mắt.
    - Niệm Phật công cứ: Người ta làm một cuốn sổ tay, cứ niệm được 1000 danh hiệu Phật thì ghi 1 chấm hoặc niệm 1000 danh hiệu Phật thì bõ vào ống một khúc chân nhang.
    - Chuyên niệm: Đi, đứng, nằm, ngồi lúc nào chúng ta cũng niệm Phật.
    Khi chúng ta niệm có tiếng, trong kinh Đại Tập nói: "Niệm lớn thấy Phật lớn, niệm nhõ thấy Phật nhỏ", chúng ta là những người căn cơ còn thấp kém, cần phãi nhờ vào tiêng niệm Phật của mình đẻ chú tâm vào đó, như vậy mới được nhất tâm.
    Khi chúng ta niệm thầm, ta cũng phải chú tâm vào từng niệm, không rời một giây phút, không cho nó chạy theo bất cứ hình ảnh, âm thanh, ý tưởng nào để cho tâm chuyên chú vào một việc, gọi là nhất tâm.
    Khi lần chuỗi niệm Phật, ta chĩ chú tâm vào danh hiệu Phật đã niệm Phật, việc lần từng chuỗi hạt để cho tay tự động làm. Về sâu chuỗi, có một chỗ người ta làm dấu như bình tịnh thủy, một hạt to hơn... nơi đó tượng trưng cho Tam bảo. Lần hạt bắt đầu từ chỗ đó lần đi, đến khi lần tới chỗ đó là đủ một tràng hạt 108 niệm, nếu chuỗi tay phải 6 lần ( 6x18 = 108), chuỗi trung phải 4 lần (4 x 27 = 108). Không bao giờ lần qua chỗ làm dấu, khi lần tới đó phải quay xâu chuỗi lần ngược lại, người ta cho rằng lần qua chỗ tượng trưng tam bảo, cũng như tay ta để qua Phật, sẽ bị tội. Nhưng theo chỗ chúng tôi nghĩ, có lẻ thiền môn đặt ra lệ ấy để tới đó ta biết rằng được một chuỗi, cũng như tụng kinh lâu lâu thỉnh một tiếng chuông để cảnh tỉnh vậy. Nhờ lần chuỗi, ta biêt được số lượng, thời gian niệm Phật.
    Điều quan trọng nhất , cốt yếu nhất của niệm Phật là phải có Tín, Hạnh, Nguyện. Tín là chúng ta phải tin chắc cõi ta bà này Sinh, lão, bệnh, tử đều là khổ, pháp môn niệm Phật là kim ngôn của Đức Thế Tôn, niệm Phật ta sẽ được sanh về cõi cực lạc, cõi ấy có thật, trang nghiêm thanh tịnh do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ. Hạnh là chúng ta phải từng giờ từng phút niệm Phật. Nguyện là chúng ta phải thành tâm chí nguyện cầu sau khi lâm chung sẽ được Phật A Di Đà và Thánh Chúng tiếp dẫn về cõi Tây Phương cực lạc. Nên biết pháp môn niệm Phật lấy Tín, Hạnh, Nguyện làm tông chỉ: Hạnh như cổ xe, nguyện như người phu xe, còn tín như kẻ dẫn đường, đủ ba mới thành tựu sự tấn thối của xe. Người tu tịnh độ còn phải trì giới, bởi vì nếu không trì giới, phạm giới tức là gieo nhân ác, chúng ta phải chịu luân hồi trở lại cõi ta bà này để trả 1uả, chớ làm sao mà về cõi tây phương được!
    IV- Vài chuyện về pháp môn niệm phật:
    - Tần Thị có chồng họ Vu, làm nghề đánh cá ở sông Tiền Đường. Con của bà chơi bời theo du đãng, phạm hình luật, bị bắt đến quan, khiến cho sản nghiệp đều tiêu tán. Tần Thị sầu khổ, đến mé sông muốn tự trầm. Vừa may đâu bà gặp một vị Tăng ở chùa Tịnh Trụ, hỏi thăm biết duyên cớ, khuyên bảo rằng: "Người đời khi bị những cảnh khổ bức bách, đó đều là nghiệp duyên kiếp trước. Vậy nên cố gắng an lòng nhẫn chịu. Nếu quẩn trí mà tự tử, tất gốc tội nghiệp càng sâu. Muốn giải trừ nghiêp khổ, chỉ có con đường duy nhất là làm lành, niệm Phật." Tần Thị nghe nói tỉnh ngộ, liền đốt một ngón tay trước bàn thờ Phật để cúng dường, và phát nguyện ăn chay trường, tu tịnh độ. Bà hành trì như thế hơn mười năm không biếng trễ. Khi gặp mọi người đều chắp tay xưng là Phật tử. Một hôm Tần Thị thỉnh tăng đến nhà tụng kinh Quán Vô Lượng Thọ còn mình thì ngồi lần chuỗi niệm Phật. Khi tụng đến chương Quán Tượng, bà ngồi yên lặng mà thoát hóa.
    - Từ Thị người ở Tòng Giang, gã về nhà chồng là Dương Thất Trai tại bản quận. Năm 32 tuổi, cô ăn chay trường niệm Phật, kiêm chí thành trì chú Đại Bi cầu sanh Cực Lạc. Mỗi bữa khuya, cô thức dậy sớm, súc miệng rửa mặt, lên hương đèn, lễ bái tụng chú Đại Bi 21 biến, niệm Phật 1000 câu, rồi mới lo đến việc nhà. Cô tu hành một mực không đổ thay thiếu sót như thế, trãi vài mươi năm. Mùa Hạ, niên hiệu Càn Long thứ 35, Từ Thị cảm bịnh nhẹ. Đến ngày mùng 8 tháng 6, cô theo lệ thường tụng niệm. Khi vừa trì chú được hơn một khắc, người nhà cảm nghe âm thanh lần thoát ra ngoài cửa. Tất cả chạy lại xem thì cô ta đã mỉm cười ngồi thoát hóa. Bấy giờ nhằm thời tiết nóng nực, để quàn ba ngày nhan sắc vẫn tươi như còn sống. Đến khi thiêu hóa y phục, các ngọn lửa bốc lên, đều hóa thành hình hoa sen năm sắc. Mọi người trông thấy lấy làm lạ thở than khen ngợi.
    - Thích Phật An, tự Thệ Nguyện, người đời Thanh ở Tô Châu, năm ông hơn 30 tuổi, nhà gần bên nhân đám cúng giết heo, khi mổ bụng ra, trên lá phổi con vật có hai chữ Tào Tháo, thấy thế ông kinh hãi, tỉnh ngộ, tin sâu thuyết nhân quả luân hồi, phát tâm vào am Thiên Trúc ở Tân Kiều, xuống tóc làm Tăng. Sau thời gian xuất gia không bao lâu, Phật An đến chùa Phật Vương ở Bắc Hào, chuyên tâm niệm Phật. Khi được tiền cúng dường, sư liền mua hương hoa dâng Phật, hoặc phóng sanh các loài chim cá. Năm Càn Long thứ 41, vào tháng ba, Phật An vướng bệnh, sai đệ tử đến chùa Sư Lâm thỉnh chư tăng lễ tịnh độ, sám ba ngày và lập một đàn Du già thí thực. Công việc hoàn mãn, sư thiết tiệc chay, mời các tân khách đến giã biệt. Ngọ trai xong, sư cao tiếng niệm Phật, đệ tử hòa theo. Khi cây hương vừa tàn, Phật An nói: "Tôi đi đây!" Liền ngồi ngay thẳng mà hóa. Bình sanh lúc ngẫu nhiên làm thi, sư đều có ý khuyên mọi người nên niệm Phật. Có hai bài khi sắp viên tịch như sau:
    Tây Phương màu đẹp bảo liên đài
    Trong tịnh sáng tươi một đóa khai
    Xanh đỏ trắng vàng phô sắc diệu
    Tầm tâm chỉ nguyện thấy Như Lai

    *
    Khảy ngón kim kiều bước đến mau
    Ai rằng Cực Lạc cách xa nào ?
    Di Đà cười mỉm tay vàng đón
    Khen ở Ta Bà giới hạnh cao !

    - Cư sĩ Ngô Minh Hồng, tự Thúc Bảo, người đời Minh, quê ở Thái Thương. Ông gia thế dư gỉa, ưa bố thí, nhưng không thông hiểu Phật pháp. Đến hơn 60 tuổi, một hôm ông bỗng tắm gội, đi từ biệt mọi người, rồi thỉnh Ấn Sơ pháp sư ở chùa Long Phước đến truyền thọ tam quy ngũ giới cho mình. Sau khi thọ quy giới xong, ông ngồi xuống chắp tay hô lớn ba lần: "Mau thoát ly!" Rồi nhắm mắt mà qua đời. Khi người nhà còn đang vây quanh, cùng hàng xóm hay tin chạy tới thăm, cư sĩ bỗng mở mắt ra bảo: "Tôi vừa phát nguyện thoát ly trần thế, dõng mãnh thầm niệm A Di Đà Phật thì cảnh Liên Hoa thế giới đã hiện ra trước mắt. Tự xét mình bình sanh không có tu hành chi, nay chỉ niệm Phật mấy câu, tại sao lại được quả báo thắng diệu như thế ? Vậy xin khuyên các vị nẻn cố gắng tu hành!" Nói xong bảo người nhà đem một chậu nước lại, soi mặt nhìn chăm chú vào trong. Giây phút bỗng như tỉnh ngộ, bảo: "Đời nầy là Ngô Thúc Bảo, kiếp trước là Từ Hòa Thượng, lành thay! Vui thay!" Rồi chắp tay niệm Phật mà mãn phần. Lúc ấy mùi hương lạ phát đầy nhà.
    Chư Tổ của Tịnh Độ Tông không có truyền thừa như Thiền Tông, sở dĩ có chư Tổ là do đời sau chư tăng tục tu môn Tịnh Độ suy tôn, trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục ghi 11 vị Tổ, nơi đạo tràng Linh Nham, Ấn Quang đại sư họp các liên hữu tăng tục suy tôn chư tổ thứ 10, 11, 12. Sau khi Ấn Quang đại sư vãng sanh, chư liên hữu nhận thấy ngài hạnh đức trang nghiêm có công hoằng dương tịnh độ, mới họp lại đồng suy tôn tổ thứ 13. Theo thứ tự chư vị Tổ tông Tịnh độ như sau:
    - 1- Huệ Viễn Đại sư 2- Thiện Đạo đại sư 3- Thừa Viễn đại sư 4- Pháp Chiếu đại sư 5- Thiếu Khang đại sư 6- Diên Thọ đại sư, tự Xung Huyền, tham học với Thiều Quốc sư ở Thiên Thai, tỏ ngộ tâm yếu, được Quốc sư ấn khả, Trung ý Vương nhà Tống thỉnh trụ trì chùa Vĩnh Minh, lại tôn hiệu là Trí Giác thiền sư. 7- Tỉnh Thường đại sư, tự Thứu Vi 8- Châu Hoằng đại sư, tự Phật Huệ 9- Trí Húc đại sư, tự Ngẫu Ích 10-Hành Sách đại sư 11- Thật Hiền đại sư, tự Tư Tề, hiệu Tỉnh Am 12- Tế Tỉnh đại sư, tự Triệt Ngộ 13- Ấn Quang đại sư.
    Trong 13 vị Tổ Tịnh Độ tông có 7 vị Thiền sư được chánh truyền, sau chuyển tu pháp môn tịnh độ, bảy vị đó là : Thừa Viễn, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích, Hành Sách, Tỉnh Am và Triệt Ngộ.
    V - KẾT: Thiền tông hay Tịnh độ tông, chúng ta không nên phân biệt pháp môn cao hay thấp, cần biết rõ pháp môn nào hợp với mình thì nên tu, khi chứng đắc rồi thì thiền hay tịnh chỉ là một, cốt làm sao cho Tâm ta được nhất tâm bất loạn, xin lục lại bài Tứ Liêu giản của Diên Thọ Đại sư, Ngài so sánh, khuyên giải chúng ta tu. Xin hãy tu mau kẻo trễ !
    Có Thiền không Tịnh độ Có Thiền có Tịnh độ
    Mười người chín lạc lộ Như thêm sùng mãnh hổ
    Ấm cảnh khi hiện ra Hiện đời làm thầy người
    Chớp mắt đi theo nó Về sau làm Phật, Tổ

    * *
    Không Thiền không Tịnh độ Không Thiền không Tịnh độ
    Muốn tu muốn thoát khổ Giường sắt, cột đồng lửa!
    Vãng sanh thấy Di Đà Muôn kiếp lại ngàn đời
    Lo gì chẳng khai ngộ Chẳng có nơi nương tựa.
    HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.29/6/2016.MHDT.
    Huệ Năng Lục Tổ.
     
    Hành trạng
    Ngài Huệ Năng sanh giờ Tý ngày mồng 8 tháng 2 năm Mậu Tuất (638) tại Tân Châu, xứ Lãnh Nam. Khi Ngài mới sanh, có hai nhà sư đến nhà đặt tên cho Ngài là Huệ Năng. Thân phụ Ngài hỏi vì sao đặt là Huệ Năng? Nhà sư đáp: ?Huệ nghĩa là đem Pháp làm ơn bố thí cho chúng sanh, Năng là nghĩa làm nỗi được việc Phật?. Như vậy họ tên Ngài là Lư Huệ Năng. Thân phụ Ngài là Lư Hành Thao, nguyên quán ở đất Phạm Dương làm quan bị giáng chức, lưu ra xứ Lãnh Nam làm thường dân, mẹ Ngài họ Lý. Cha mất sớm, mẹ già, thân côi cút dời qua xứ Nam Hải, cảnh đắng cay, nghèo thiếu phải bán củi ở chợ để nuôi mẹ.
    Năm 24 tuổi ( 661) một hôm đem giao củi xong, nghe người ta tụng kinh Kim Cang, Ngài khai ngộ, hỏi người tụng kinh tu ở đâu, người ấy cho biết đã tu học với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn tại chùa Đông Thiền, huyện Hoàng Mai, xứ Kỳ Châu. Có một người khách cho 10 lạng bạc, bảo dùng tiền ấy xếp đặt việc ăn ở cho mẹ già, rồi tới huyện Hoàng Mai tham lễ Ngũ Tổ.
    Sau khi an bề ăn ở của mẹ già, Ngài Huệ Năng đi không quá ba mươi ngày, đến nơi ra mắt Ngũ Tổ. Ngũ Tổ hỏi: "Người từ đâu lại, muốn cầu chi ?". Ngài Huệ Năng đáp :" Đệ tử là dân thường xứ Lãnh Nam, từ xa lại đây lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu chi khác!"
    Ngũ Tổ nói: "Người Lãnh Nam là giống muông mọi làm sao làm Phật được?". Huệ Năng đáp:" Người ta tuy có Bắc, Nam chớ Phật tánh vốn không Nam Bắc, thân muông mọi với thân Hòa Thượng chẳng đồng, chớ Phật tánh có chi là khác biệt?"
    Ngũ Tổ còn muốn nói nữa nhưng thấy môn đồ vây quanh, bèn sai đi làm phận sự. Ngài Huệ Năng thưa thêm: "Kẻ đệ tử nầy trong tâm thường sanh trí tuệ, chẳng rời khỏi tự tánh, tức là phước điền rồi, chưa hay Hòa Thượng dạy làm việc chi?". Ngũ Tổ nói: "Chà quân mang mọi nầy căn tánh nhậm lẹ, thôi đừng nói nữa, hãy đi xuống tào ngựa đi ."
    Huệ Năng lui xuống nhà sau, có người sai Huệ Năng bửa củi, giã gạo trải qua tám tháng có hơn, một ngày kia Ngũ Tổ xảy thấy Huệ Năng, ngài bảo rằng: “Ta thấy ý kiến nhà ngươi có thể dùng, nhưng sợ e kẻ khác làm hại cho nên chẳng nói với ngươi, ngươi biết chăng?” Ngài Huệ Năng đáp: “Đệ tử cũng biết ý Thầy cho nên chẳng dám đi ra phía trước đặng cho người ta chẳng hay biết.”
    Một ngày kia Tổ Kêu các môn đồ lại và dạy rằng: “Người trong đời sanh tử là việc lớn, các ngươi cứ lo làm việc phước mà chẳng cầu ra khỏi sanh tử. Cái tánh của mình nếu còn mê cái phước làm sao cứu đặng ra khỏi luân hồi. Các ngươi hãy lui ra, tự xét cái trí huệ, lấy tánh Bát Nhả nơi tâm mình, mỗi người làm một bài kệ, đem lại trình ta coi. Nếu ai ngộ được đại ý, thì ta sẽ trao Áo và Pháp cho đặng làm tổ thứ sáu. Đi mau đi, cần phải nóng như lửa, chẳng đặng chậm trễ. Nếu còn phải suy nghĩ thì chẳng dùng được. Người nào thấy đặng Tánh, coi trong lời lẽ sẽ thấy ngay. Người như vậy như bậc tướng tài quơ đao xông ra trận, thấy thì biết liền.”
    Mọi người lui ra, bàn tán và thấy chỉ có Thần Tú đang làm giáo thọ là đáng bực được truyền y bát kế thừa Tổ, cho nên mọi người ngầm ý để cho Thần Tú làm kệ. Thần Tú lại nghĩ mình làm kệ với dụng tâm được truyền y bát, kiếm ngôi Tổ thì là xấu mà chẳng làm thì phụ ý thầy.
    Phía trước giảng đường của Ngũ Tổ, có ba gian mái hiên, ngài định nhờ quan Cung Phụng Lư Trân vẻ biến tướng kinh Lăng Già và chơn dung năm vị tổ từ Đạt Ma sơ tổ đến Ngũ Tổ đặng lưu truyền. Còn Thần Tú làm xong bài kệ mấy lần muốn trình Thầy mà còn ngại, sau bốn ngày với 13 lần muốn trình kệ chẳng đặng, Thần Tú bèn có ý viết bài kệ vào vách của mái hiên, nếu Ngũ Tổ thấy, cho là được thì Thần Tú nhận của mình, còn nếu Tổ chê thì Thần Tú sẽ vào núi sâu mai danh ẩn tích.
    Vào canh ba đêm kia, Thần Tú viết bài kệ vô vách phía Nam, trình ý kiến từ trong tâm mình.
    Thân thị bồ đề
    Tâm như minh kính đài
    Thời thời cần phất thức
    Vật sử nhạ trần ai

    Nghĩa:
    Thân là cây Bồ Đề
    Tâm như cái gương tỏ
    Thường khi lo phủi chùi
    Đừng để đóng bụi lọ.

    Trời sáng Ngũ Tổ mời quan Cung Phụng họ Lư tới vách tường phía Nam để vẽ, xảy thấy bài kệ, Tổ nói với quan Cung Phụng: "Quan Cung Phụng chẳng cần vẽ nữa. Làm nhọc Ngài từ xa lại đây nhưng kinh có dạy rằng : “Hể cái gì có hình tướng, đều là hư vọng” Chỉ lưu bài kệ nầy cho người ta tụng trì, y theo bài kệ nầy mà tu, khỏi đọa nẻo ác, y theo bài kệ nầy mà tu, có lợi ích lớn."
    Ngũ Tổ liền sai đồ đệ đốt hương, lể kính rồi tụng bài kệ ấy, tức sẽ thấy Tánh. Các đệ tử tụng kệ, đều khen hay.
    Tới canh ba đêm ấy, Tổ kêu Thần Tú vào chánh đường hỏi có phải bài kệ của Thần Tú không? Thần Tú nhận là của mình làm, chẳng phải cầu được làm tổ mà chỉ mong Ngũ Tổ xem xét định giá về trí tuệ của mình.
    Tổ dạy rằng, Thần Tú làm bài kệ ấy, thật chưa thấy Tánh, chỉ tới ngoài ngõ chưa vô trong cửa. Theo như chỗ thấy và chỗ hiểu ấy mà cầu đạo vô thượng thì chẳng đặng. Ngài dạy Thần Tú thêm, đạo vô thượng vốn tự bổn tâm, thấy tự bổn tánh chẳng sanh, chẳng diệt, không trệ, tự nhiên như nhiên. Cái tâm như nhiên là chơn thật. Nếu chỗ thấy như vậy là tánh tự nhiên của Đạo Vô Thượng. Ngũ Tổ bảo Thần Tú hãy lui ra suy nghĩ trong đôi ngày để làm kệ khác trình lại, nếu được nhập môn Tổ sẽ truyền trao y, bát. Thần Tú lễ Tổ lui ra, qua vài ngày vẫn không làm được bài kệ, đi đứng chẳng yên, tinh thần không được vui vẻ.
    Lại hai ngày sau, có một chú tiểu đi ngang qua chỗ Huệ Năng giã gạo, xướng tụng bài kệ ấy, Ngài Huệ Năng nghe qua một lần liền biết chưa thấy bổn tánh, tuy chưa được đội ơn thọ lấy giáo pháp, nhưng đã sớm biết đại ý. Bèn hỏi chú tiểu: “Kệ gì chú tụng vậy ?”
    Chú tiểu nói: “Cái anh xứ muông mọi chẳng hiểu gì cả. Đại Sư ngài đã nói: Người trong đời, sanh tử là việc lớn, Ngài muốn giao truyền Y, Pháp các môn đồ làm kệ đem trình, nếu ai ngộ được đại ý, thì Ngài giao áo và Pháp để làm tổ thứ sáu. Thượng Toạ Thần Tú đã viết nơi vách ở phía Nam bài kệ Vô tướng. Đại Sư khiến mọi người đều tụng, theo kệ mà tu khỏi đọa nẻo ác, có lợi ích lớn.” Ngài Huệ Năng nói: “Thượng nhơn ơi ! Tôi cũng muốn tụng bài kệ đó, để kết mối duyên sau. Tôi đã giã gạo hơn tám tháng dư, chưa từng đến phía trước, mong người hãy dẫn đến trước bài kệ, để tôi lễ bái.”
    Chú tiểu liền làm theo lời yêu cầu. Đến nơi, Ngài Huệ Năng nói: “Tôi không biết chữ, xin ngài hãy vì tôi đọc cho.” Lúc ấy có quan Biệt giá Giang Châu Trương Nhật Dụng liền cao giọng đọc. Ngài Huệ Năng nghe xong liền nói: “Tôi cũng có một bài kệ, cúi mong quan Biệt Giá viết dùm.” Biệt Giá nói: "Anh cũng làm kệ, việc thật ít có." Ngài Huệ Năng quay qua quan Biệt Giá nói: “Muốn học đạo vô thượng không nên khinh người mới học. Hạng dưới đôi khi có trí hơn bậc trên cùng. Bậc trên cùng cũng có khi trí kém. Nếu khinh người thì có vô lượng vô biên tội.”
    Quan Biệt Giá nói: “Anh hãy tụng kệ, tôi viết cho. Nếu anh đắc pháp xin đừng quên độ tôi trước hết nghe !”
    Ngài Huệ Năng nói kệ :
    Bồ Đề bổn vô thọ
    Minh Kính diệc phi đài
    Bổn lai vô nhứt vật
    Hà xứ nhạ trần ai

    Nghĩa là:
    Vốn không cây Bồ Đề
    Cũng chẳng đài gương tỏ
    Vốn không có vật gì.
    Chổ nào đóng bụi lọ.

    Bài kệ viết xong, môn đồ đều sợ, không ai chẳng khen và nghi hoặc, họ nói: “Kỳ thay, không thể lấy tướng mạo mà định người. Tại sao lại có thể sai khiến vị Bồ tát xác thịt nầy!?” Tổ thấy mọi người kinh ngac, sợ người ta làm hại, bèn lấy dép bôi bài kệ đi và nói: “Cũng chưa thấy Tánh”. Môn đồ nghe theo lời Ngũ Tổ, cho là như thế.
    Hôm sau, Tổ lựa lúc không có người, tới chỗ giã gạo, thấy Huệ Năng vì ốm yếu, phải đeo đá để đứng trên chày giã gạo, Ngài nói: “Người cầu Đạo vì Pháp mà quên mình đến thế sao?!” Rồi Tổ hỏi: “Gạo giã đã trắng chưa?” Huệ Năng bạch rằng: “Gạo giã đã trắng lâu rồi, chỉ còn thiếu cái sàng ở đây”. Tổ lấy gậy đánh xuống cối 3 cái, rồi bỏ đi, Huệ Năng hiểu được ý Ngũ Tổ.
    Nửa đêm hôm ấy, Ngài Huệ Năng lén vào thất của Ngũ Tổ, Tổ lấy áo cà sa che vây quanh, cho người ngoài chẳng thấy rồi Tổ giảng kinh Kim Cang, đến câu : “Nên không trụ vào đâu mà sanh ra tâm của mình” Huệ Năng nghe qua, đại ngộ được lẽ: Hết thảy muôn pháp đều chẳng rời khỏi tính tự nhiên, bèn bạch với Tổ: “Dè đâu tánh tự nhiên vốn tự thanh tịnh, dè đâu tánh tự nhiên vốn chẳng sanh diệt, dè đâu tánh tự nhiên vốn nó đầy đủ, dè đâu tánh tự nhiên vốn không lay động, dè đâu tánh tự nhiên thường sanh muôn pháp.”
    Tổ biết Huệ Năng đã ngộ về bổn tánh nên bảo thêm: “Kẻ nào chẳng biết bổn tâm thì học đạo vô ích. Nếu ai biết bổn tâm tự nhiên, thấy bổn tánh tự nhiên, tức thị kêu là bực trượng phu là Thầy của Trời, người là Phật.”
    Tổ truyền giáo pháp và Y, Bát mọi người chẳng hay. Tổ dạy rằng: “Nhà ngươi làm tổ đời thứ sáu khéo hộ niệm lấy mình, hãy độ rộng chúng sinh, lưu truyền đạo lý cho đời sau, đừng để cho dứt đứt.”
    Rồi Ngũ Tổ đọc một bài kệ:
    Hữu tình lai há chủng
    Nhơn địa quả hoàn sanh
    Vô tình diệc vô chủng
    Vô tánh diệc vô sanh.

    Nghĩa là:
    Có tình lại gieo giống
    Nhơn đất quả lần sanh
    Không tình cũng không giống
    Không tánh cũng không sanh.

    Ngũ Tổ lại nói: “Thuở xưa Tổ Đạt Ma lại đất này người ta chưa tin, cho nên truyền Áo nầy đặng làm thể tin, đời nầy truyền nối qua đời kia. Còn Pháp thì lấy tâm truyền tâm, đều khiến cho ngộ lấy, hiểu lấy. Từ xưa chư Phật chỉ truyền cho nhau cái bổn thể, các Sư trao ngầm cho nhau cái bổn tâm. Chớ Áo là mối tranh, thôi nhà ngươi đừng truyền. Vì nếu truyền Áo nầy thì mạng nguy như sợi tơ treo vậy. Nhà ngươi nên đi mau kẻo e người ta làm hại.”
    Huệ Năng hỏi : “Nên đi về đâu?” Tổ dạy: “Gặp Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn.”
    Huệ Năng lãnh Áo, Bát rồi nhưng chẳng biết đường ra bờ sông, Tổ dạy là để Tổ đưa đi.
    Ngũ Tổ đưa thẳng tới trạm Cửu Giang, rồi bảo Huệ Năng lên thuyền, còn Ngài cầm mái chèo. Huệ Năng bạch: “Xin Hòa Thượng ngồi để đệ tử chèo mới phải.” Tổ nói: “Lẽ thì ta độ cho nhà ngươi.” Ngài Huệ Năng tiếp: “Lúc mê thì thầy độ cho, khi tỉnh thì độ lấy mình. Độ tuy là một tiếng, mà chỗ dùng thì chẳng đồng nhau. Huệ Năng nầy sanh tại chốn biên thùy, giọng nói chẳng được đúng, được thầy truyền Pháp, nay đã đắc ngộ rồi, chỉ nên do tánh mình mà độ lấy mình thôi.”
    Tổ nói: “Phải vậy, phải vậy... Phật pháp từ đây do nhà ngươi thi hành cho lớn ra, nhà ngươi đi rồi ba năm, ta sẽ qua đời. Nay nhà ngươi đi cho may mắn, rán sức đi về phương Nam, chẳng nên vội nói sớm, pháp Phật khó khởi.”
    Huệ Năng được Tổ truyền Y, Bát vào năm Tân Dậu (661), từ biệt Tổ đi về phía Nam, trong hai tháng tới núi Đại Sưu. Phía sau có vài trăm người rượt tới để đoạt Áo và Bát. Trong bọn có Trần Huệ Minh, vốn là võ quan tứ phẩm đi tu nên tánh thô tục. Huệ Minh là người đứng đầu trong bọn người tìm kiếm Ngài Huệ Năng, khi Huệ Minh theo kịp, Huệ Năng để Y, Bát xuống hòn đá mà nói rằng: “Áo nầy chỉ để làm dấu tin, há nên tranh giành quá sao?” Rồi Ngài Huệ Năng ẩn trong bụi cỏ rậm. Huệ Minh rượt tới muốn lượm lấy Y, Bát nhưng không cử động được. Bèn la lên: “Hành giả ôi! Tôi vì Pháp mà lại chớ chẳng phải vì Áo mà lại đâu!”
    Nghe thấy vậy, Ngài Huệ Năng bèn rời chỗ nấp, ra ngồi xếp bằng tại trên hòn đá. Huệ Minh làm lễ và thưa rằng: “Mong rằng hành giả vì tôi mà thuyết Pháp cho nghe.” Ngài Huệ Năng nói: “Nhà ngươi vì Pháp mà lại thì nên dẹp tắt các duyên đi, đừng sanh một lòng nghĩ gì hết; ta sẽ nói rõ cho nhà ngươi nghe”, rồi một lúc sau, chờ cho Huệ Minh lắng tâm thanh tịnh Ngài mới nói: “Chẳng nghĩ điều lành, chẳng nghĩ điều dữ, chính trong lúc ấy mới hiểu rõ diện mục bổn lai của bực Thượng Tọa.”
    Huệ Minh nghe rồi đại ngộ, lại hỏi thêm: “Từ trước tới nay ngoài lời nói kín do mật ý phát ra, còn có mật ý nào nữa chăng?” Huệ Năng trả lời: “Cái tôi đã nói với ông thì không phải là sự bí mật, nếu ông tự phản chiếu thì mật ý chính ở bên ông vậy!” Huệ Minh nói: “Huệ Minh tuy ở Hoàng Mai thật chưa từng xét ra diện mục của mình. Nay nhờ ơn chỉ biểu như người uống nước, lạnh hay ấm tự mình biết lấy. Nay Ngài tức là thầy của Huệ Minh.” Ngài Huệ Năng nói: “Anh được như vậy thì chính là cùng tôi tôn Ngài Hoàng Mai làm thầy, hãy khéo tự hộ trì lấy mình.” Huệ Minh lại hỏi: “Từ nay về sau, Huệ Minh nầy nên đi xứ nào?” Huệ Năng đáp: “Gặp Viên thì ngừng, gặp Mông thì ở.” Huệ Minh làm lễ từ biệt. Rồi Huệ Minh trở lại đám người kia, bảo họ là không thấy dấu, nên họ chuyển sang tìm hướng khác. Sau nầy Huệ Minh đổi tên mình thành Đạo Minh.
    Rồi Ngài Huệ Năng lần đến thôn Tào Hầu, quận Thiều Châu, không có người nào biết mà ẩn náu. Khi ấy có Lưu Chí Lược, nhà nho đãi Sư rất hậu, Chí Lược có người Cô là Ni Sư hiệu là Vô Tận Tạng thường tụng kinh Niết Bàn. Sư nghe qua liền biết nghĩa mầu nhiệm, bèn giải thuyết cho nghe. Ni Sư cầm quyển kinh hỏi chữ. Sư bảo không biết chữ nhưng cứ hỏi nghĩa Sư giải thích cho. Ni Sư nói: “Chữ còn chẳng biết sao hiểu được nghĩa?” Sư nói: “Lý mầu nhiệm của chư Phật chẳng quan hệ gì với văn tự.”
    Ni Sư ngạc nhiên và báo cho mọi người rõ: "Đây là người hiểu Đạo, nên thỉnh cúng dường."
    Thuở ấy, trong thôn có Tào Thúc Lương cháu 5 đời của Tào Tháo và dân chúng ở gần đua nhau lại chiêm bái Sư. Đương thời, ở thôn Tào Khê có một ngôi chùa cũ tên là Bảo Lâm vì nạn binh lửa cuối đời Tùy đã để bỏ, người ta bèn cất lại rước Sư về ở đó. Ngôi chùa nầy nguyên do Ngài Trí Dược khuyên bảo dân Tào Hầu dựng nên và có báo rằng: “ Lối một trăm bảy chục năm nữa sẽ có vị Vô Thượng Pháp Bảo đắc đạo ở đây, kể đắc đạo đông như rừng, chùa cất thì đặt hiệu là Bảo Lâm.” Chùa cất xong quan Mục Thiều Châu là Hầu Kính Trung soạn tờ biểu dâng lên triều đình, được vua Lương Võ Đế chuẩn lời ban cho tấm biễn là Bảo Lâm Tự, đó là năm thứ ba triều Thiên Giám (504).
    Ngài Huệ Năng ngụ ở đây hơn chín tháng, lại bị một số người truy lùng, Sư trốn qua ngọn núi phía trước, lại bị bọn chúng đốt núi nhưng may mắn Sư tránh khỏi, nhớ đến lời Ngũ Tổ dạy: “Gặp Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn”, nên Sư đi đến huyện Tứ Hội theo đám thợ săn ở ẩn. Ở với đám thợ săn, Ngài tùy nghi mà nói đạo cho họ nghe, khi nào bọn thợ săn sai giữ lưới, mỗi khi thấy muông thú sa vào, Ngài đều thả hết. Đến mỗi bửa ăn, chỉ lấy rau ở trong nồi thịt mà ăn. Có kẻ hỏi thì đáp: “Chỉ ăn rau bên thịt”. Trải qua mười lăm năm, đến một ngày kia Ngài suy nghĩ, lúc nầy nên hoằng pháp, không thể ẩn núp nữa.
    Bèn đi đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, ngày mồng 8 tháng Giêng Bính Tý (675), gặp lúc Ấn Tông Pháp Sư giảng kinh Niết Bàn. Khi ấy gió thổi lá phướng lay động, có hai ông Tăng bàn cải với nhau, kẻ cho “gió động”, người cho “phướng động” chẳng ai chịu thua ai. Ngài Huệ Năng bước tới nói rằng: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướng động, ấy là lòng người động.” Mọi người ngạc nhiên.
    Ấn Tông mời lên chiếu trên ngồi, cầu hỏi nghĩa lý Phật pháp, thấy Ngài Huệ Năng lời giản dị, lý chánh đáng, không do văn tự. Ấn Tông hỏi: "Ngài chắc không phải người thường. Từ lâu nghe Áo, Pháp của Ngài Hoàng Mai xuống phương Nam, chắc là Ngài phải chăng ?" Ngài Huệ Năng đáp: “Không dám !”
    Rồi Ấn Tông làm lễ xin đem Y, Bát cho đại chúng coi. Ấn Tông lại hỏi thêm: “Ngài Hoàng Mai giao phó cho Ngài thì chỉ thị những gì?” Ngài đáp: “Không chỉ thị gì, chỉ bàn thấy Tánh, chớ không bàn Thiền Định, Giải Thoát.” Ấn Tông hỏi: “Tại sao không bàn thiền định và giải thoát?” Ngài đáp: “Đó là hai pháp, không phải là Phật pháp. Phật pháp thì không phải hai”. Ấn Tông lại hỏi: “Thế nào là pháp không hai của Phật pháp?” Ngài đáp: “Pháp Sư giảng Kinh Niết Bàn, làm sáng tỏ Phật tánh, đó là Phật pháp chẳng có hai. Như Ngài Cao Quí Đức Vương Bồ Tát bạch Phật rằng: “Những kẻ phạm bốn giới cấm nặng, làm năm tội nghịch và bọn không tin Phật pháp (Nhứt Xiển Đề) có dứt mất thiện căn, Phật tánh hay không?” Phật đáp: “Thiện căn có hai; một thường; một vô thường. Phật tánh không thường cũng không vô thường, bởi vậy cho nên chẳng dứt đặng. Gọi là không hai: Một là thiện, hai là không thiện mà Phật tánh không thiện cũng không bất thiện nên gọi là không hai. Uẩn cùng với Giới, phàm phu thấy là hai, còn người đã đạt ngộ thì tánh nầy không hai. Tánh không hai tức là Phật tánh.”
    Ấn Tông nghe xong, hoan hỷ chấp tay mà nói: “Tôi giảng kinh như ngói gạch, Ngài luận nghĩa như vàng ròng.” Ngài Huệ Năng bèn mở Pháp môn Đông Sơn ở gốc cây Bồ Đề, cây nầy do Ngài Trí Dược đem từ Ấn Độ sang trồng tại đây. Vào năm đầu Thiên Giám của vua Lương Võ Đế (502), có dựng bia ghi: "Sau đây lối một trăm bảy chục năm sẽ có vị Bồ Tát xác thịt khai diễn thuyết thượng thừa tại dưới cây nầy độ cho vô lượng chúng là vị pháp chủ chơn truyền tâm ấn Phật vậy." Nơi đây Ngài Cầu-Na-Bạch-Đà-La tam tạng pháp sư cũng có dựng bia vào thời Lưu Dụ (420-478), có ghi rằng: “Sau nầy sẽ có vị Bồ Tát xác thịt thọ giới ở đây.”
    Đến ngày rằm tháng Giêng năm ấy, ẤnTông họp tứ chúng xuống tóc cho Ngài Huệ Năng và đến ngày mồng tám tháng Hai, nhóm các vị đức hạnh danh tiếng đương thời như Ngài Trí Quang Luật Sư ở Trường An làm Thọ Giới Sư, Ngài Huệ Tịnh Luật Sư ở Tô Châu làm Yết Ma, Ngài Thông Ứng ở Kinh Châu làm Giáo Thọ, Ngài Kỳ-Đa-La Luật Sư ở Trung Ấn làm Thuyết Giới. Ngài Mật-Đa Tam Tạng Pháp Sư ở Ấn Độ làm chứng minh, để cho Ngài Huệ Năng thọ giới, Ấn Tông từ đây tôn Ngài Huệ Năng tức Lục Tổ làm thầy.
    Mùa Xuân năm sau, Ngài từ giả tứ chúng về chùa Bảo Lâm, Ấn Tông Pháp Sư, các tăng ni Phật tử có trên ngàn người đưa Ngài tới Tào Khê. Khi ấy Ngài Thông Ứng luật sư ở Kinh Châu cùng vài trăm học giả nương theo Sư. Sư thấy chùa Bảo Lâm chật hẹp nên có đến viếng Trần Á Tiên, người trong vùng để xin cúng dường đất cất thêm trang viện. Trần Á Tiên bằng lòng hiến cúng tất cả đất đai trong ấy kể cả mả mồ tứ đại để xây dựng chùa. Sư đi dạo chơi trong vùng đất ấy, gặp cảnh tốt bèn dừng nghỉ rồi cất thành một chùa nhỏ, tổng cộng được 13 chùa nhỏ trong vùng đất Tào Khê nầy. Lục Tổ về tới chùa Bảo Lâm vì ở trong núi cách trở nên Thứ Sử Thiều Châu Vi Cứ cùng thuộc viên vào núi thỉnh Sư ra chùa Đại Phạm ở thành Thiều Châu khai duyên thuyết pháp.
    Tiểu sử đắc pháp và các bài thuyết pháp chính yếu của Ngài ghi trong Pháp Bảo Đàn Kinh đều được giảng ở chùa Đại Phạm nầy.
    Rằm tháng Giêng năm 684, Đường Trung Tông theo lời đề nghị của Huệ An Quốc Sư và Thần Tú Đại Sư, sai quan Nội Thị Tiết Giảng đến chùa Bảo Lâm thỉnh Lục Tổ vào triều để thuyết pháp cho Thái Hậu và Vua.
    Lục Tổ dâng biểu cáo từ vì bệnh, xin trọn đời được ở nơi núi non tu hành. Theo lời thỉnh cầu của Tiết Giảng về những vấn nạn Phật Pháp, Lục Tổ đã giảng dạy về tọa thiền về Phật tánh. Tiết Giảng được ngộ, trở về kinh tâu lên Vua.
    Ngày mồng 3 tháng 9 năm ấy, Vua ban chiếu khen thưởng , cúng dường áo cà sa bá nạp và bình bát thủy tinh, truyền cho Thứ Sử Thiều Châu sửa sang chùa, lại truyền cất một ngôi chùa chỗ ở cũ của Lục Tổ, ban tên là chùa Quốc Ân:
    Tháng 7 năm Nhâm Tý (685), Lục Tổ sai môn đồ qua chùa Quốc Ân tại Tân Châu xây tháp và khiến thợ làm mau, để cuối mùa hạ năm sau khánh thành.
    Ngày mồng một tháng Bảy năm Quí Sửu (713), Sư nhóm đồ chúng mà dạy rằng: “Đến tháng 8 nầy ta muốn lìa khỏi thế gian. Bọn ngươi có điều chi nghi, nên hỏi sớm đi, đặng ta phá nghi cho, khiến cho các ngươi hết mê. Chớ nếu sau ta đi rồi, không có người dạy các ngươi.”
    Các Sư như Pháp Hải nghe qua đều khóc, duy có Thần Hội là thần tình chẳng động, cũng không khóc. Lục Tổ nói: “Thần Hội tiểu sư ! Ví dầu được những điều lành hay chẳng lành, khen chê chẳng động, vui buồn chẳng sanh, chẳng cho là được gì hết.” Còn các ngươi ! Ở trong núi bao nhiêu năm đã tu được những gì? Vì ai mà ưu tư thương khóc. Nếu lo cho ta không biết chỗ đến? Chính ta tự biết chỗ mình đến. Nếu ta không biết chỗ đến, đã không báo trước cho các ngươi. Các ngươi thương xót khóc than, thật là chưa biết nơi ta đến. Nếu biết nơi ta đến tất chẳng nên than khóc làm chi. Pháp tánh vốn không sanh, không diệt, không đến, không đi. Tất cả hảy ngồi xuống ta sẽ đọc cho các ngươi một bài kệ gọi là: chơn, giả, động, tịnh. Các ngươi tụng bài kệ nầy. Đồng ý với ta, theo đó mà tu hành, chẳng sai tông chỉ.”
    Chư tăng làm lễ, thỉnh Lục Tổ đọc kệ, Ngài đã đọc bài kệ như sau:
    Hết thảy không có chơn,
    Chẳng đem coi là chơn
    Nếu coi là chơn đó
    Ấy coi hết chẳng chơn
    Nếu tự mình có chơn
    Lìa giả, tức tâm chơn
    Tâm mình chẳng lìa giả
    Không chơn, chốn nào chơn?
    Có tình liền biết động
    Không tình liền chẳng động
    Nếu ta chẳng động hành
    Đồng không tình chẳng động
    Nếu tìm thiệt chẳng động
    Trên động có chẳng động
    Chẳng động là chẳng động
    Không tình không Phật chủng
    Khéo phân biệt được tướng
    Nghĩa đệ nhứt chẳng động
    Chỉ làm kiến như vậy
    Tức là chơn như dụng
    Bảo người học đạo hay
    Rán sức nên dụng ý
    Đừng ở cửa Đại Thừa
    Giữ lấy trí sanh tử
    Nếu dưới lời ứng nhau
    Liền cùng bàn Phật nghĩa
    Nếu thiệt chẳng ứng nhau
    Chấp tay, khiến hoan hỷ
    Tông nầy vốn không tranh
    Tranh liền mất đạo ý
    Pháp môn chấp nghịch tranh
    Tự tánh vào sanh tử.

    Lục Tổ kệ xong, tất cả đều làm lễ, thảy đều giữ tâm y theo pháp tu hành không dám tranh cải. Khi biết Lục Tổ chẳng còn trụ thế lâu đời. Sư Pháp Hải đến trước Tổ lễ Ngài để hỏi:
    - Sau khi Hòa Thượng nhập diệt, Áo Pháp nên giao cho ai ?
    Lục Tổ bảo: “Từ khi ta thuyết pháp ở chùa Đại Phạm đến giờ, hảy ghi chép lại lưu hành, đề tựa là “Pháp Bảo Đàn kinh”. Các ngươi hãy gìn giữ truyền trao cho nhau, độ cho quần sanh. Theo y như thuyết nầy, đó là chánh pháp. Nay ta thuyết pháp cho các ngươi nghe chớ không có truyền Áo nầy. Thật là vì tín căn của các ngươi thuần thục quyết định chẳng nghi, nhậm nỗi việc lớn. Theo ý kệ của Tổ Sư Đạt Ma truyền trao thì Áo không nên truyền nữa.”
    Ngô bổn lai tư độ
    Truyền Pháp cứu mê tình
    Nhứt hoa khai ngủ diệp
    Kết quả tự nhiên thành

    Nghĩa:
    Vốn ta lại đất ấy,
    Truyền Pháp cứu mê tình
    Một hoa trổ năm cánh
    Kết quả tự nhiên thành.

    Ngày mồng 8 tháng 7 Quí Sửu (713), Lục Tổ bảo môn đồ rằng: “Ta muốn về Tân Châu, các ngươi sửa soạn thuyền chèo cho mau”. Các môn đồ khẩn thiết xin Tổ lưu lại lâu hơn. Tổ nói: "Chư Phật xuất hiện còn tỏ ra Niết Bàn. Có lúc lại, ắt có lúc đi, cũng là lẻ thường vậy. Hình hài nầy của ta ắt có nơi về."
    Môn đệ hỏi: “Từ đây Sư đi, sớm muộn gì cũng có khi trở về?” Sư đáp: "Lá rụng về cội. Không hẹn ngày trở về."
    Môn đệ lại hỏi: “Chánh pháp truyền trao cho ai?” Sư đáp: “Kẻ có đạo thì đắc, kẻ vô tâm thì thông.”
    Môn đồ lại hỏi thêm: “Sau nầy có nạn gì chăng?” Sư đáp: "Sau khi ta diệt độ năm, sáu năm sẽ có người lại lấy đầu ta, hãy nghe lời sấm ký của ta :
    Đầu thượng dường thân
    Khẩu lý tu san
    Ngộ Mãn chi nan
    Dương Liễu vi quan ".

    Nghĩa là :
    Trên đầu thờ cha mẹ
    Trong miệng cần miếng ăn
    Gặp cái nạn thằng Mãn
    Lúc Dương, Liễu làm quan

    Rồi Lục Tổ rời Tào Khê, đến chùa Quốc Ân ở Tân Châu. Ngày mồng 3 tháng 8 năm Quí Sửu (713) Lục Tổ thọ trai ở chùa Quốc Ân xong, Ngài bảo các môn đồ rằng: “Các ngươi đều y vị thứ mà ngồi, ta từ biệt các ngươi đây.”
    Sư Pháp Hải bạch xin Ngài lưu lại một thời pháp, khiến cho người mê sau thấy được Phật tánh. Vì lời thỉnh cầu đó, Lục Tổ thuyết một bài pháp Phật tại tâm chúng sinh và lưu một bài kệ “Tự Tánh Chơn Phật”.
    Lục Tổ đọc kệ xong bảo đồ chúng, sau khi Ngài diệt độ, đừng khóc lóc, đừng nhận phúng điếu, đừng mặc đồ tang, ấy không phải là chánh pháp. Rồi Ngài đọc một bài kệ:
    Ngột ngột bất tu thiện
    Đằng đằng bất tạo ác
    Tịch tịch đoạn kiến văn
    Đảng đảng tâm vô trước

    Nghĩa là :
    Sững sững chẳng tu hành
    Trơ trơ không tạo dữ
    Thấy nghe dứt như không
    Tâm không chút nghi lự.

    Kệ xong, Lục Tổ ngồi ngay ngắn cho tới canh ba, thình lình bảo môn đồ: “Ta đi đây!”. Rồi Ngài tịch diệt.
    Lục Tổ thọ 76 tuổi. Năm 24 tuổi còn là cư sĩ được trao truyền Y, Bát . Năm 39 tuổi, xuống tóc thọ cụ túc giới. Thuyết pháp lợi ích cho chúng sanh 37 năm, kẻ ngộ đạo cao siêu rất nhiều, kẻ được nối pháp có 43 người, môn đệ anh tuấn có Thanh Nguyên Hành Tư, Nam Nhạc Hoài Nhượng, Hà Trạch Thần Hội, Vỉnh Gia Huyền Giác, Nam Dương Tuệ Trung, Pháp Hải . Chính Ngài Pháp Hải thường theo Lục Tổ ghi chép thuyền ngữ, ngôn hành rồi soạn thành bộ Tôn Bảo. Sau nầy Linh Thao dựa theo đó và các văn bia của Thượng Thư Vương Duy, Thứ Sử Liễu Tôn Nguyên và Lưu Vũ Tích soạn thành Pháp Bảo Đàn Kinh.
    Môn đồ của Ngài Nam Nhạc sau phân lập thành 2 tông phái Thiền là Lâm Tế và Quy Ngưỡng.
    Còn môn đồ của Ngài Thanh Nguyên sau phân lập thành 3 tông phái Thiền là Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhẫn. Năm tông nầy ứng với câu kệ: “Nhứt hoa khai ngũ diệp.”
    Đến tháng 11 năm ấy, quan lại, môn đồ của Ngài ở ba quận Quảng Châu, Thiều Châu và Tân Châu đều muốn giữ nhục thân của Ngài để tôn thờ, nên cuối cùng phải giải quyết, đốt hương khấn nguyện với Ngài: “Hễ khói nhang bay về hướng nào, nhục thân sẽ được rước về đó”. Rồi khói nhang bay về hướng Tào Khê.
    Ngày 13 tháng 11 năm Quí Sửu (713). Linh cửu, Y, Bát được rước về Tào Khê.
    Ngày 25 tháng 7 năm Giáp Dần (714), tổ chức lễ nhập tháp cho nhục thân Lục Tổ. Những bảo vật như Y, Bát của Tổ Đạt Ma truyền lại, Y ma nạp, Bát thủy tinh của Vua Trung Tông ban và tượng Lục Tổ do Sư Phương Biện đấp cùng các đạo cụ, đều giao cho thị giả của Lục Tổ, để tại chùa Bảo Lâm.
    Đêm mồng 3 tháng 8 năm Nhâm Tuất (722), thình lình nghe trong tháp như có tiếng kéo dây sắt. Chúng tăng giựt mình thức dậy, ngó thấy một người mặc đồ đại tang từ trong tháp chạy ra. Tìm thấy có vết thương tại nơi cổ Lục Tổ. Môn đồ đem chuyện ấy trình lên quan trên. Quan huyện Dương Khản và Thứ Sử Liễu Vô Thiễm nhận được đơn, truy lùng kẻ phạm tội. Sau năm ngày tìm được tên Trương Tịnh Mãn, người huyện Lương thuộc Nhữ Châu, ở chùa Khai Nguyên xứ Hồng Châu, nhận do Thầy Sải Kim Đại Bi nước Hàn khiến mướn lấy đầu Tổ để đem về xứ Hải Đông cúng dường.
    Quan Thứ Sử họ Liễu nghe lời khai, chưa gia hình, liền đến Tào Khê hỏi Sư Linh Thao: “Vụ án nầy, xử như thế nào?” Linh Thao đáp: "Nếu lấy luật nước mà bàn, thì nên giết. Nhưng lấy nghĩa từ bi của Phật giáo thì oán thù như nhau, huống hồ gì hắn muốn cúng dường, thì nên tha thứ vậy."
    Liễu Vô Thiễm khen: “Mới hay cửa Phật quảng đại!”
    Việc nầy ứng với câu sấm ký của Lục Tổ, nhục thân Ngài bị kẻ trộm người Mán cắt lấy đầu, lúc Dương Khản làm quan huyện và Liễu Vô Thiểm làm quan Thứ Sử.
    Năm đầu Thượng Nguyên (760),Vua Túc Tông sai sứ thỉnh Y, Bát của Lục Tổ đem vào nội cung cúng dường. Qua năm đầu Vĩnh Thái (765), ngày 5 tháng 5 năm, Vua Đại Tông chiêm bao thấy Lục Tổ xin lại Y, Bát. Ngày mồng 7 tháng ấy, sai sứ là Trấn Quốc Đại Tướng quân Lưu Sùng Cảnh mang Y, Bát trả về chùa Bảo Lâm và truyền cho Thứ Sử Thiều Châu Dương Giam khiến chùa gìn giữ cẫn thận và Vua đặt là Quốc Bảo.
    Vua Đường Hiến Tông (806 - 821) ban thụy là Đại Giám Thiền Sư, đề tên tháp là Nguyên Hòa Linh Chiếu.
    Vua Tống Thái Tông (976 - 983) gia tặng thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Thiền Sư, chiếu sửa sang lại tháp và đặt tên là Thái Bình Hưng Quốc Chi Tháp.
    Năm 1033, Vua Tống Nhơn Tông (1023 - 1064) rước chơn thân, Y, Bát của Lục Tổ vào đại nội cúng dường lại gia tặng thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Phổ Giác Thiền Sư.
    Vua Tống Thần Tông (1068 - 1086) gia tặng thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Phổ Giác Viên Minh Thiền Sư.
    Sự Thị Hiện Của Lục Tổ.
    Ở ngoài thế tục, Lục Tổ là một người nghèo khó, bán củi nuôi mẹ độ nhật, vào chùa là phụ thụng cư sĩ lo việc bửa củi, giả gạo, chớ chẳng có tụng kinh, nghe pháp hơn tám tháng chưa bước tới chánh điện, thậm chí đến việc Ngủ Tổ tập họp môn đệ lại để dạy mỗi người làm một bài kệ trình kiến giải của mình về tánh bát nhã, người ta cũng chẳng lưu tâm đến Ngài vì Ngài là người miền Nam được liệt vào loại man di mà lại không biết chữ nữa! Vậy mà Lục Tổ đã ngộ được Phật tánh, chứng đắc pháp Phật, được Ngủ Tổ Hoàng Mai trao truyền Y Bát. Việc này phá bỏ tất cả những quan niệm, nhận thức sai lầm từ trước là chỉ có những người có học, những người có trí tuệ mới có thể tu học chứng đắc được Phật pháp. Trường hợp Lục Tổ chứng thực rằng từ kẻ trí cho đến phàm phu đều có Phật tánh, cho nên đều có thể thành Phật. Là một trường hợp thuyết phục mạnh mẻ cho mọi người dể tin rằng chân lý của Đức Phật rỏ ràng ?Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính?.
    Chúng ta thấy rằng đạo Phật được truyền bá vào Trung quốc từ những năm trước Công Nguyên, cho đến đời Vua Minh Đế nhà Hậu Hán năm 67 TL nhà Vua sai sứ sang Tây Vực thỉnh tượng Phật, dọc đường sứ rước được hai nhà sư Ấn Độ là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đưa về kinh đô, Vua mừng rở cho lập Bạch Mả Tự để hai nhà sư dịch kinh. Từ đó cho đến khi Ngài Huệ Năng cầu Pháp, đạo Phật đã truyền bá ở Trung Quốc trên 600 năm đã có những nhà sư Trung Quốc sang Ấn Độ thỉnh kinh như Ngài Pháp Hiển đi Ấn Độ từ năm 399 đến 414 và Ngài Trần Huyền Trang (600-664) đi Ấn Độ từ 629 đến 645, có nhiều Vua, quan đại thần đã quy y Tam bảo, dốc lòng phụng sự Phật Pháp như là Lương Vỏ Đế, một số nhà sư được phong làm Quốc Sư, cho thấy đạo Phật thời ấy ảnh hưởng mạnh mẻ đến Vua, quan và những nhà trí thức làm cho người ta có thể nghĩ rằng đạo Phật chỉ thích hợp cho hạng người trí thức, uyên thâm kinh nghĩa, để nghiên cứu kinh điển. Trường hợp Ngài Huệ Năng là một biến cố, đạo Phật chân truyền từ Đức Thế Tôn cho đến Ngài vẫn chỉ là một giáo lý, một chân lý. Tự tánh Bồ Đề bổn lai thanh tịnh, bình đẳng với mọi người, ai ai cũng có thể đạt tới thanh tịnh, thanh tịnh thường hằng ấy là đạt đạo vậy.
    Tư tưởng căn bản của Lục Tổ.
    Không phải tự nhiên mà Lục Tổ, hoặc là người viết Pháp Bảo Đàn Kinh đã đưa lên hàng đầu quyển kinh, cũng là lời mở đầu bài giảng ở chùa Đại Phạm khi Tổ được Thứ Sử Lưu Cứ thỉnh Ngài từ núi ra thành Thiều Châu giảng kinh:
    - Thiện tri thức! Bồ Đề tự tánh, bổn lai thanh tịnh, đản dụng thủ tâm, trực liễu thành Phật.
    Nghĩa là: Hởi chư thiện tri thức! Tự tánh Bồ Đề vốn thanh tịnh, chỉ dùng cái tâm nầy, đủ thành Phật vậy.
    Ai cũng biết rằng Phật đã dạy ?mọi chúng sanh đều có Phật tánh?. Phật tánh ấy là tự tánh Bồ Đề là sự thanh tịnh. Làm thế nào giữ cho được tâm của mình luôn luôn thanh tịnh thì sẽ thành Phật.
    Ở đây Lục Tổ khẳng định lại một lần nữa sự chứng đắc của Ngài, chân lý vốn là một, trước kia trình với Ngủ Tổ:
    Bồ Đề bổn vô thọ
    Minh kính diệc phi đài
    Bổn lai vô nhứt vật
    Hà xứ nhạ trần ai?

    Qua bài kệ nầy ta thấy Ngài đã khẳng định tự tánh Bồ Đề vốn không là, không phải, không có một vật gì cả mà như vậy thì nó thanh tịnh đó là Ngài định nghĩa. Bây giờ Ngài chỉ cho cách tu để thành bậc chánh giác ấy là phải giữ cho tâm luôn luôn được thanh tịnh tức là đạt đến cảnh giới Niết Bàn, đạt đạo tức là thành Phật.
    Trong kinh Di Đà Phật có dạy: ?Nếu có thiện nam, tín nữ nào hoặc một ngày cho đến bảy ngày niệm danh hiệu Phật, tâm không tán loạn, khi sắp chết sẽ được Phật A Di Đà và chư vị Thánh hiện ra trước mắt. Khi chết mà tâm không tán loạn liền được sanh về cõi cực lạc của Phật A Di Đà. Nhờ đoạn kinh phổ quát nầy, chúng ta thấy rằng một khi ta nhứt tâm chánh niệm, không chút xao động thì tâm ta đạt được cảnh giới thanh tịnh, tâm ấy là Bồ Đề tâm mà tánh ấy là tánh thanh tịnh: Không sanh, không diệt, không thêm, không bớt, không dơ, không sạch. Đó cũng là Trí Bát
    Nhã vậy. Đạt đến nhứt tâm bất loạn, tức là tâm Bồ Đề, tức là đã đến bờ bên kia. Một người ngồi thiền, một người niệm Phật đều có thể đạt được.
    Tư tưởng căn bản của Lục Tổ được Ngài trình bày thật rõ ràng, cô động và xúc tích.
    Sự hình thành dòng thiền đông độ.
    Qua câu hỏi của Ngũ tổ : "Gạo giả đã trắng chưa?", nếu câu ấy Tổ hỏi chúng ta, chắc chúng ta sẽ trả lời một trong hai trường hợp " - Đã trắng hoặc chưa được trắng ". Còn Huệ Năng hiểu theo mật ý là đã đạt đạo chưa ? Do đó Ngài trả lời là " - Gạo giả đã trắng, chỉ còn thiếu cái sàng", có nghĩa là lý đạo đã thấu nhưng còn chờ người chứng đắc cho.
    Rồi Ngũ tổ tay đang cầm quạt, gõ vào cối ba cái, ngài Huệ Năng hiểu liền đó là ước hẹn vào canh ba, cho nên ngài Huệ Năng canh ba đêm đó liền lẻn vào phương trượng của ngài Hoằng Mai, từ lời lẽ trong bài kệ đến những câu đối đáp, nhậm ý chứng tỏ căn tánh ngài Huệ Năng đã đạt đạo. Do đó Ngũ tổ đã trao truyền tâm ấn, giao phó cho Lục tổ trách nhiệm hoằng pháp, độ sanh, xiển dương chánh pháp, làm cho dòng Thiền Đông độ ngày càng xương thịnh hơn.
    Lục tổ lấy kinh nghiệm bản thân mình, không cần phải đọc thiên kinh, vạn quyển, chỉ giữ cho tâm thanh tịnh, trí Bát nhã tự nhiên sanh, chính Lục tổ đã tỏ ngộ được từ kinh Kim Cang, một kinh sắc như gươm, chặt đứt mọi phiền não, triệt để phá chấp. Lục tổ dùng kinh Kim Cang làm tôn chỉ cho tông Vô niệm của ngài để lưu truyền hậu thế, thay chi Lăng già do Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ mang sang truyền trao lại.
    Một vài nghi vấn
    Việc Huệ Minh và những người chạy theo tìm Ngũ tổ để lấy lại y bát, làm cho nhiều người nghĩ rằng, đạo Phật là đạo diệt dục nhưng tại sao người ta còn Tham Sân Si, muốc chạy theo Lục tổ để dành lấy Y Bát ?
    Hiểu như vậy cũng đúng nhưng mà nếu chúng ta ở vào hoàn cảnh một thiền sinh dưới trướng của Ngũ Tổ, chúng ta sẽ nghĩ và làm gì ? Đâu phải tất cả mọi người vàp chùa tu là Thánh Tăng, xả ly tất cả mọi tham ái ? sân si ? Có những người đã tu lâu năm, có những người vừa mới tu, họ cũng là người tâm tánh cũng như chúng ta mà thôi, cho nên ai ai cũng tôn kính giáo thọ Thần Tú, mọi người đều nghĩ rằng Thần Tú sẽ được truyền y bát, gần nhất là bài kệ của người đã được Ngũ tổ tán dương. Còn Huệ Năng, dưới mắt của các Thiền sinh chẳng qua là một anh chàng quê mùa, dốt nát, chỉ có làm công quả, chẳng có tụng kinh, ngồi thiền, sau ba ngày anh ta mất tích, Ngũ tổ cũng không thăng đường thuyết pháp, nay ngài cho biết Y Bát đã truyền cho Huệ Năng ! Có lẽ vì lòng Từ mà ngài phải nói như thế, để giúp cho Huệ Năng khỏi bị mang tội trộm cắp mà thôi, chớ sự trao truyền ấy có ai đã thấy ? Chàng ta đã xứng đáng chưa ? Chắc là chưa. Vì bài kệ của Huệ Năng đọc cho quan Biệt giá Trương Nhật Dụng chép lên vách, đã bị Ngũ tổ dùng dép xóa đi, trước mọi người ngài còn khẳng định là chưa đạt đạo kia mà. Nhưng có lẽ lòng tham của Huệ Năng nỗi lên, đã đánh cắp Y Bát và trốn chạy, mà anh chàng nhà quê ấy còn trốn chạy đâu hơn là chạy về miền Nam.
    Ở vào trường hợp nầy, Ngũ tổ có lòng từ nên tha thứ, nhưng nếu chúng ta không chạy theo lấy lại Y Bát trả về cho Ngũ tổ mới là đáng chê trách người đệ tử không biết bảo vệ, phục vụ thầy tổ mình. Cho nên Huệ Minh và những người sơ cơ khác chạy theo Lục Tổ để dành lại y bát, là một hành động đương nhiên thường tình lý phải như vậy, còn nếu Thần Tú chạy theo mới đáng cho chúng ta chê trách.
    Ngũ tổ vì sao truyền Y Bát mà không cho chúng đệ tử rõ? Lý do chánh yếu là ngài biết rõ ai ai cũng tôn thờ Thần Tú, từ lâu mọi người tin chắc rằng Thần Tú sẽ được truyền Y Bát, nay nếu tuyên bố Y Bát truyền cho Huệ Năng mọi người sẽ không thể phá chấp, sẽ xem Huệ Năng là một người quê mùa, dốt nát, tầm thường và Huệ Năng có thể bị ám hại, cho nên Ngũ tổ đã dạy Huệ Năng xuôi về Nam, ẩn thân một thời gian, như thế một là Huệ Năng đến miền đất xa lạ, chưa ai biết tông tích, người ta sẽ dễ dàng chấp nhận, tôn thờ, hai là thời gian ẩn thân để làm cho tâm mọi người lắng động, phải chấp nhận việc truyền trao Y Bát đó là đương nhiên khi đã được một số người khác tôn sùng, bảo vệ thầy tổ của mình, ba là Huệ Năng có đủ thời gian để nghiền ngẫm suy tư và chứng ngộ, chờ đợi một cơ hội thuận tiện khai mở dòng thiền, ngài đã khai mở đúng lúc bằng một nhát búa bổ mạnh vào tâm thức hai thiền sinh về "tâm động", trong khi họ cãi với nhau vì lá phướng động hay vì gió động.
    Khi tiễn Huệ Năng, Ngũ tổ cho biết ba năm sau người sẽ tịch, tại sao Ngài không dành ba năm đó để giảng dạy chữ nghĩa, kinh điển, khai mở trí tuệ cho Huệ Năng rồi mới trao truyền Y Bát, thật ra thì Huệ Năng đã đạt đạo, sau nầy ngài đã nói với Ni sư Vô Tậ Tạng : "Lý mầu của chư Phật chẳng quan hệ gì với văn tự", mà đúng vậy, Huệ Năng đâu đã học chữ nào mà đã ngộ được kinh Kim Cang, thì cần gì Ngũ tổ phải dạy thêm chữ nghĩa, điều nầy lại hóa ra là một khẳng định, một phá chấp triệt để những lớp trước hoặc đương thời tôn sùng văn tự, phải lão thông kinh điển, chẳng hạn như Pháp sư Tam Tạng Trần Huyền Trang (600-664), mới có thể tu học và chứng ngộ giáo lý đạo Phật.
    Lãnh Nam là tên vùng đất Việt Nam thời trước, nhưng cha mẹ của Huệ Năng đều là người Trung Hoa, nhưng mà chùa Quốc Ân ở xứ Tân Châu, nơi mà vua Đường Trung Tông ban cho ở chỗ cũ tức là đất Lãnh Nam, chúng ta không thấy những sách Phật giáo Việt Nam xưa nói đến, phải chăng xứ Tân châu nằm ở Quảng Đông ngày nay, đất nầy thược Trung Quốc từ lâu vã lại Lục tổ cũng là người Trung Quốc nên các sách Phật giáo xưa đều không nói tới. Hơn nữa, trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn do Thiền sư Thích Thanh Từ dịch năm 1975 phần Lăng già tâm ấn duyên khởi, Kim Vô một Thiền sư Trung Hoa viết " ... Đến năm Mậu Tuất ( 1641 ), Ngài trở về Lãnh Nam. Kim Vô tôi năm sau từ Ngọc Môn tìm đến ...", như vậy, Lãnh Nam của Huệ Năng và của Kim Vô nói tới có thể là một và nó là đất Trung Hoa mà thôi.
    Phương pháp thực hành
    Phương pháp thực hành của Lục Tổ được Ngài tạo thành một pháp môn Vô Niệm mà Ngài có nói rỏ, lấy vô niệm làm tông, vô tướng làm thể và vô trụ làm gốc. Ngài dạy vô niệm là đối với chuyện nghĩ mà không nghĩ, Vô Tướng là đối với tướng mà rời khỏi tướng và Vô Trụ là chẳng trụ vào mỗi điều nghĩ, tức là không bị trói buộc.
    Chúng ta có thể tìm hiểu thêm về tông vô niệm của Ngài do chính Ngài giảng: Sao kêu là vô niệm? Biết và thấy tất cả các pháp mà lòng chẳng chấp nê, thấm nhiễm, ấy là vô niệm. Dùng đến liền biến khắp mọi nơi, cũng chẳng chấp nê hết thảy mọi nơi. Chỉ cốt trong sạch lòng mình, khiến cho sáu thức ra khỏi sáu cửa, ở trong lục trần mà không tạp, không nhiễm. Qua lại tự do, không dụng không trệ, tức là Bát Nhã Tam Muội, tự tại giải thoát gọi là hạnh vô niệm. Nếu đối với trăm vật chẳng nghĩ, rồi khiến cho niệm tuyệt, tức là hành pháp trói buộc, đó kêu là biên kiến.
    Hỡi chư thiện tri thức! Hể ai ngộ được pháp vô niệm thì thấy cảnh giới của chư Phật. Hể ai ngộ được pháp vô niệm tức đạt được địa vị Phật.
    Để dạy người ta thực hành pháp vô niệm, Lục Tổ có 2 bài kệ, chúng tôi chọn một bài trích ra đây, vì thấy rằng nó đầy đủ hơn bài kia:
    Thuyết thông với tâm thông với hai tướng,
    Như mặt trời treo tượng hư không
    Chỉ truyền thấy tánh pháp dòng
    Ra đời phá bể tà tông ra ngoài.
    Pháp chẳng cứ hai loài tiệm đốn
    Chậm mau do ở chốn tĩnh mê
    Cửa này thấy tánh thì về
    Người ngu che lấp chẳng hề tĩnh ra
    Dầu giảng thuyết rộng xa muôn dặm
    Mà lý thì hiệp lại một đường
    Trong nhà phiền não mơ màng
    Mặt trời huệ tỏ nên thường mọc ra
    Hễ tà lại tức là phiền não
    Hễ chánh về phiền não trừ đi
    Chánh tà đều chẳng dùng chi
    Một lòng thanh tịnh đến thì không dư
    Bồ Đề vốn chơn như tự tánh
    Hễ khởi lòng bất chánh là sai
    Tịnh tâm vẫn ở trong sai
    Chánh xô ba chướng ra ngoài đạo ngay
    Người đời nếu có hay tu lạy,
    Hết thảy đều chẳng hại đạo mầu
    Lỗi mình mình thấy làu làu
    Tức là với đạo hai đầu tương đương
    Loài sắc tự nó thường có đạo
    Đều chẳng làm phiền não chi nhau
    Lìa đạo, tìm đạo ở đâu?
    Trốt đời chẳng thấy đạo mầu nơi nao
    Một đời những lao đao vì đạo
    Rốt cuộc rồi áo não lấy thân
    Muốn tìm cho thấy đạo chơn
    Làm ngay thì đạo xây vần tới ngay
    Tự mình nếu không hay có đạo
    Làm quấy thì thấy đạo là gì.
    Kẻ nào thiệt dạ tu trì
    Tự nhiên chẳng thấy lỗi chi ở đời
    Nếu mình thấy những người làm quấy
    Mình quấy theo kẻ ấy thấp thay
    Quấy ai ta chẳng quấy lây
    Nếu ta cũng quấy lỗi rày ở ta

    Vậy ta hãy ruồng xa lòng quấy
    Phiền não trừ chẳng thấy não phiền
    Ghét yêu chẳng bận lòng thiền
    Ruổi dài hai cẳng nằm yên một giường
    Với người khác tìm phương khuyến thiện,
    Tự mình nên phương tiện tùy cơ
    Chớ cho họ có lòng ngờ.
    Tức là tự tánh bây giờ hiện ra
    Pháp Phật ở đời ta như vậy
    Chẳng lìa đời mà thấy riêng bề
    Lìa đời kiến đạo bồ đề
    Như tìm sừng thỏ chẳng hề thấy đâu
    Chánh kiến ấy tên đầu xuất thế
    Tà kiến là tiếng để thế gian
    Chánh tà quét sạch một làn
    Tánh bồ đề sẽ chan chan hiện trần.
    |Tụng nầy ấy là phần đốn giáo
    |Cũng kêu tên là đại pháp thuyền
    Mê thì hằng kiếp liên miên
    Tĩnh thì giây lát cũng liền thành luôn.

    Về pháp môn thiền định Lục Tổ dạy: “Hỡi chư thiện tri thức! Sao kêu là thiền định? Bên ngoài rời khỏi tướng là thiền. Bên trong chẳng loạn là định. Bên ngoài mắc lấy tướng thì ở bên trong liền loạn. Bên ngoài nếu rời khỏi tướng, thì tâm liền chẳng loạn. Bổn tánh tự tịnh, tự định; chỉ vì thấy cảnh mà nghĩ đến cảnh liền loạn. Nếu thấy các cảnh mà tâm chẳng loạn, đó mới thiệt là định vậy.
    Hỡi chư thiện tri thức! Ngoài rời khỏi tướng tức là thiền; trong chẳng loạn tức là định; ngoài thiền trong định đó tức là thiền định. Kinh Bồ Tát Giới chép rằng: “Bổn tánh của ta nguyên tự nó thanh tịnh”.
    Hỡi chư thiện tri thức! Ở trong mỗi lúc, mỗi giây nghĩ, tự mình thấy bổn tánh thanh tịnh. Tự mình tu, tự mình hành, tự thành Phật đạo vậy.”
    Qua đây chúng ta thấy rằng từ tư tưởng căn bản tự tánh bồ đề vốn thanh tịnh, giữ cho tâm mình luôn luôn được thanh tịnh tức là trở về với bổn tánh, khi đã hợp nhất với tự tánh thì Bát Nhã Trí sanh, đạt quả vị Bồ Đề, phương pháp để đạt được là phải thiền định.
    Mà phương pháp thiền của Lục Tổ như trên đã nói tức là giữ cho tâm được thanh tịnh không suy tư như Phật đã dạy: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” để đáp lại câu “Vân hà hàng phục vọng tâm?”
    Chính vì vậy mà các Thiền Sư có lối la, hét, đánh đá những nhà Sư, trong các trường hợp các nhà Sư suy nghĩ để trả lời câu hỏi của Thiền Sư, bởi vì có suy nghĩ là còn đi ngược lại phương pháp Thiền Định của Lục Tổ rồi.
    Tổ đã nói trong bài kệ trên:
    Bồ Đề vốn chơn như tự tánh
    Hể khởi lòng bất chánh là sai
    Tịnh tâm vẫn ở trong sai.
    Chánh xô ba chướng ra ngoài đạo ngay

    Nguyên văn:
    Bồ Đề bổn tự tánh.
    Khởi tâm tức thị vọng.
    Tịnh tâm tại vọng trung.
    Đản chánh vô tam chướng.

    Hiểu được phương pháp căn bản nầy thì chúng ta thấy có những câu Tổ hỏi và những câu các đồ đệ trả lời không có liên quan chút nào hết điều nầy nó thực chứng cho hành giả có giữ được bổn tánh thanh tịnh hay không.
    Chẳng hạn Triệu Châu đến chỗ Thiền Sư Hy Vận, Hoàng Bá thấy Sư đến liền đóng cửa phương trượng. Sư lấy lửa đem vào pháp đường kêu:
    - Cứu lửa, cứu lửa!
    Hoàng Bá mở cửa, nắm Sư đứng lại, bảo:
    - Nói! Nói!
    Sư bảo:
    - Cướp qua rồi mới trương cung.
    * *
    Sư Lâm Tế Nghĩa Huyền đến hỏi Thiền Sư Hoàng Bá:
    - Thế nào là đại ý Phật pháp?
    Hoàng Bá liền đập cho một gậy. Sau Sư lại hỏi hai lần nữa, cũng bị mỗi lần một gậy. Sư Lâm Tế phải từ giả sang tham vấn Thiền Sư Đại Ngu, thuật lại sự việc trên, và hỏi rằng như vậy có lỗi hay không mà bị đánh như thế. Đại Ngu nói: Hoàng Bá dạy ngươi thống thiết, tại ngươi còn tìm lỗi?. Ngay câu nầy Sư Lâm Tế tĩnh ngộ.
    Còn Ngài Đại Ngu lúc còn đi học đạo, đến chào từ biệt Thiền Sư Trí Thường (Qui Tông). Ngài Trí Thường hỏi:
    - Đi đâu?
    - Đi các nơi học ngủ vị thiền.
    - Các nơi ngủ vị thiền, ta trong ấy chỉ có nhất vị thiền.
    - Thế nào là nhất vị thiền?
    Ngài Trí Thường liền đánh. Đại Ngu nhờ vậy đại ngộ, thưa:
    - Ngưng, con hội rồi.
    - Nói! Nói!
    Đại Ngu vừa nghĩ trả lời.
    Ngài Trí Thường liền đánh đuổi đi.
    * *
    Thiền Sư Qui Sơn Linh Hựu cùng chúng đi hái trà. Thiền Sư bảo Huệ Tịch:
    - Trọn ngày hái trà chỉ nghe tiếng con mà chẳng thấy hình con, hảy hiện bổn hình cho ta thấy coi.
    Huệ Tịch liền đập cây trà.
    Thiền Sư bảo:
    - Con chỉ được cái dụng của nó. Chẳng được cái thể của nó.
    Huệ Tịch thưa:
    - Chưa biết Hòa Thượng thế nào?
    Thiền Sư im lặng. Huệ Tịch nói:
    - Hòa Thượng chỉ được cái thể của nó, không được cái dụng của nó.
    Thiền Sư bảo:
    - Cho con hai chục gậy.
    * *
    Thiền Sư Đơn Hà một hôm thượng đường tay nắm con mèo giơ lên bảo đồ chúng ai nói được sẽ tha con mèo còn không thì sẽ giết nó. Mọi người đều yên lặng. Thiền Sư liền chặt đứt đầu con mèo.
    Khi Ngài Triệu Châu về tới, Thiền Sư nói lại câu chuyện, Triệu Châu bèn cỡi giày đội lên đầu. Thiền Sư Đơn Hà bảo: ?Giá khi nãy có ngươi thì đã cứu được con mèo.? Có vị cho rằng Triệu Châu đã lấy đôi giày là cái ti tiện để trên đầu là chỗ cao quí, tức là muốn nói không có quí tiện, không phàm thánh, vượt ngoài đối đãi. Đó là một nghĩa nhưng cũng còn có một nghĩa nữa là đừng có suy nghĩ, Ngài chặt đứt đầu con mèo cũng là hành động dứt khoát chặt đứt mọi tư lương, phải quấy, thiện ác.... Hiểu như vậy thì hành động của Triệu Châu đầy ý nghĩa giữ đúng tông phong của Lục Tổ.
    Kết quả hoằng hóa của Lục Tổ.
    Năm 24 tuổi xuất gia, hơn 8 tháng giả gạo, sàn thóc tại chùa Động Thiền huyện Hoằng Mai. Sau bài kệ trình kiến giải, canh ba đêm sau được Ngủ Tổ Hoằng Nhẩn chứng đắc rồi trao truyền Y, Bát và đưa lên đường về phương Nam để lánh nạn và hoằng dương chánh pháp sau nầy.
    Từ Hoằng Mai xứ Kỳ Châu, Ngủ Tổ đã lánh nạn ở Thiều Châu. Lúc ở thôn Tào Hầu, lúc vào rừng ở huyện Từ Hội sống với bọn thợ săn, trải qua hơn 15 năm. Sau đó Lục Tổ mới đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu gặp Hoà Thượng Ấn Tông, ẤnTông xuống tóc và tổ chức lễ cho Ngài thọ cụ túc giới, từ đây Ấn Tông tôn thờ Lục Tổ làm thầy.
    Tại chùa Pháp Tánh Lục Tổ đã khai pháp môn tại đây, năm sau Ngài về chùa Bảo Lâm ở Tào Khê hoằng hoá thiền tông, xiển dương chánh pháp trong 37 năm.
    Mấy tháng cuối cùng Ngài về chùa Sắc Tứ Quốc Ân ở Tân Châu, nơi Ngài đã sanh để tịch.
    Trải qua 52 năm kể từ ngày được truyền Y, Bát chứng đắc pháp môn. Lục Tổ đã lánh nạn tức là bảo vệ chánh pháp 15 năm. Mười lăm năm nầy ai đã từng trải qua những ngày tháng ẩn cư lánh nạn, chịu đựng bao nổi vất vả về vật chất và tinh thần, mới thấy hết ý nghĩa vì nhiệm vụ được truyền trao bảo vệ và hoằng dưoong chánh pháp của Ngài.
    Ba mươi bảy năm thuyết pháp độ sanh, Lục Tổ đã giúp cho kẻ ngộ đạo cao siêu rất nhiều từ vua, quan cho đến thứ dân ở kinh đô cũng như ở chốn hoang dã. Những vị được nối pháp có 43 người; những vị mà chúng ta thường nghe nhắc đến trong sách thiền, trong các câu chuyện về thiền như:
    Thiền Sư Hành Tư, Hoài Nhượng, Huyền Giác, Thần Hội, Pháp Hải, Quốc Sư Huệ Trung.
    Thiền Sư Hoài Nhượng (667-744) truyền đến Đạo Nhất (709-788). Thiền Sư Đạo Nhất truyền đến Hoài Hải (720-814), Thiền Sư Hoài Hải truyền cho Vô Ngôn Thông (?-826) sang Việt Nam lập phái thiền Vô Ngôn Thông, Thiền Sư Hoài Hải truyền đến Linh Hựu (751-853), đệ tử của Linh Hựu là Huệ Tịch (804-899) lập ra phái thiền Qui Ngưỡng Tôn. Cùng Ngài Hoài Hải truyền đến Hy Vận (?-850) có đệ tử là Nghĩa Huyền (?-867) lập ra Lâm Tế Tôn. Kể từ Lục Tổ đến Ngài Vô Ngôn Thông là đời thứ 4 và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch cùng Lâm Tế Nghĩa Huyền là đời thứ 5 thiền tông ở Trung Quốc đã sớm phân phái.
    Còn Thiền Sư Hành Tư (?-740) truyền cho Hy Thiên (700-790), Thiền Sư Hy Thiên truyền cho Duy Nghiễm (751-834), Thiền Sư Duy Nghiễm truyền cho Đàm Thạch (728-841), Thiền Sư Đàm Thạch truyền cho Lương Giới (807-869), Thiền Sư Lương Giới truyền cho Bổn Tịch (840-901). Thiền Sư Bổn Tịch lập ra Tào Động Tôn.
    Cũng là đệ tử của Ngài Hy Thiên là Đạo Ngộ (747-816). Thiền Sư Đạo Ngộ truyền cho Sùng Tín (?), Thiền Sư Sùng Tín truyền cho Huyền Giám (780-865), Thiền Sư Huyền Giám truyền cho Nghĩa Tồn (822-908), Thiền Sư Nghĩa Tồn truyền cho Văn Uyển (?-949). Thiền Sư Văn Uyển lập ra Vân Môn Tôn.
    Ngài Nghĩa Tồn cũng truyền cho Sư Bị (835-908), Thiền Sư Sư Bị truyền cho Quế Sâm (867-928), Thiền Sư Quế Sâm truyền cho Văn Ích (885-958). Thiền Sư Văn Ích lập ra Pháp Nhãn Tôn.
    Phái của Ngài Hành Tư đến đời thứ Sáu thì lập Tào Động Tôn, đời thứ Bảy lập Vân Môn Tôn và đến đời thứ Chín lập ra Pháp Nhãn Tôn.
    Phái Lâm Tế đời thứ 18 có Thiền Sư Huệ Nam (1002-1069) ở Hoàng Long lập ra hệ phái Hoàng Long và Thiền Sư Phương Hội (?-1054) ở Dương Kỳ lập ra phái Dương Kỳ hoàn tất việc lập năm tôn và chia ngủ phái thiền của Tổ Huệ Năng ở Trung Quốc.
    Ở Việt Nam phái thiền Vô Ngôn Thông cũng là phái thiền của Ngài Huệ Năng thuộc hệ phái của Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng.
    Tào Động Tôn cũng có truyền đến miền Bắc nước ta, còn miền Trung và Nam Lâm Tế Tôn có phái Nguyên Thiều và Liễu Quán nhưng phái của Ngài Nguyên Thiều được truyền bá rộng rải ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.29/6/2016.MHDT.